L’âme du vietnam - Maitres de la modernité

Sat 27 Jun17H00

DROUOT SALLE 4 PARIS - HÔTEL DROUOT SALLE 4

83 result
Lot: 1
Ⓟ JOSEPH INGUIMBERTY (1896-1971) "Le marchand ambulant"

Ⓟ JOSEPH INGUIMBERTY (1896-1971)

"Le marchand ambulant"

Crayon sur papier
Signé en bas à droite
Encadré sous verre
49 x 43 cm

Provenance : Collection particulière française.


JOSEPH INGUIMBERTY (1896–1971)
"Người bán hàng rong"
Bút chì trên giấy
Ký tên ở góc dưới bên phải
Đóng khung dưới kính
49 x 43 cm

Nguồn gốc : Bộ sưu tập tư nhân Pháp
Định giá : 1,000 EUR - 1,200 EUR
Xem
Lot: 2
Ⓟ JOSEPH INGUIMBERTY (1896-1971) "Nature morte aux mimosas"

Ⓟ JOSEPH INGUIMBERTY (1896-1971)

"Nature morte aux mimosas"

Huile sur toile
Signée en bas à gauche
73 x 54 cm

Provenance : Collection privée, Sud de la France.


JOSEPH INGUIMBERTY (1896–1971)
"Tĩnh vật với hoa mimosa"

Tranh sơn dầu trên vải bố
Ký tên ở góc dưới bên trái
73 x 54 cm

Nguồn gốc : Bộ sưu tập tư nhân, miền Nam nước Pháp

Định giá : 25,000 EUR - 30,000 EUR
Xem
Lot: 3
Ⓟ JOSEPH INGUIMBERTY (1896-1971) "Paysage de Provence"

Ⓟ JOSEPH INGUIMBERTY (1896-1971)

"Paysage de Provence"

Huile sur toile
Signé en bas à droite
53 x 70 cm

Provenance : Collection privée, Sud de la France.


JOSEPH INGUIMBERTY (1896–1971)
"Phong cảnh"

Tranh sơn dầu trên vải bố
Ký tên ở góc dưới bên phải
53 x 70 cm

Nguồn gốc : Bộ sưu tập tư nhân, miền Nam nước Pháp.

Định giá : 6,000 EUR - 8,000 EUR
Xem
Lot: 4
Ⓟ JOSEPH INGUIMBERTY (1896-1971) "Chênes en hiver"

Ⓟ JOSEPH INGUIMBERTY (1896-1971)

"Chênes en hiver"

Huile sur toile
Signée en bas à droite
81 x 100 cm

Provenance : Collection particulière française.

Bibliographie et expositions :
- Giulia Pentcheff, Joseph Inguimberty. Catalogue raisonné de l’œuvre peint, planche n°271, p. 169.
- Le Sud de Joseph Inguimberty, exposition à la Galerie Pentcheff, Marseille, février 2012, reproduit au catalogue sous le n° 25.


JOSEPH INGUIMBERTY (1896–1971)
"Cây sồi mùa đông"

Tranh sơn dầu trên vải bố
Ký tên ở góc dưới bên phải
81 x 100 cm

Nguồn gốc : Bộ sưu tập tư nhân Pháp.

Thư mục và triển lãm :
- Giulia Pentcheff, Joseph Inguimberty. Catalogue raisonné de l’œuvre peint, bảng minh họa số 271, tr. 169.
- Le Sud de Joseph Inguimberty, triển lãm tại Galerie Pentcheff, Marseille, tháng 2 năm 2012, được tái hiện trong catalogue số 25.

Định giá : 6,000 EUR - 8,000 EUR
Xem
Lot: 5
Ⓗ JOSEPH INGUIMBERTY (1896 - 1971) "Paysage de Provence, France"

Ⓗ JOSEPH INGUIMBERTY (1896 - 1971)

"Paysage de Provence, France"

Huile sur toile
Signée en bas à droite
60 x 92 cm

JOSEPH INGUIMBERTY (1896 - 1971)
"Phong cảnh Provence, Pháp"

Sơn dầu trên vải
Ký tên ở góc dưới bên phải
60 x 92 cm

Định giá : 9,000 EUR - 12,000 EUR
Xem
Lot: 6
Ⓗ HENRI MEGE (1904-1984) "Aube sur la rivière Hương"

Ⓗ HENRI MEGE (1904-1984)

"Aube sur la rivière Hương"

Huile sur panneau
Signée en bas à gauche, titrée et localisé au verso
46 × 65.3 cm

HENRI MEGE (1904 - 1984)
"Bình minh trên sông Hương"

Sơn dầu trên tấm gỗ
Ký tên ở góc dưới bên trái, mặt sau đề tiêu đề và địa danh
46 x 65.3 cm

Định giá : 6,000 EUR - 8,000 EUR
Xem
Lot: 7
Ⓟ HENRI MEGE (1904-1984) "Dans la jungle"

Ⓟ HENRI MEGE (1904-1984)

"Dans la jungle"

Huile sur panneau
Signée en bas à gauche
35,5 x 45 cm

Provenance : Collection privée française

HENRI MÈGE (1904–1984)
"Trong rừng rậm"

Tranh sơn dầu trên ván
Ký tên ở góc dưới bên trái
35,5 x 45 cm

Nguồn gốc : Bộ sưu tập tư nhân Pháp.

Định giá : 3,000 EUR - 4,000 EUR
Xem
Lot: 8
Ⓟ ANDRE MAIRE (1898-1984) "Jeunes cambodgiennes devant Angkor", 1973

Ⓟ ANDRE MAIRE (1898-1984)

"Jeunes cambodgiennes devant Angkor", 1973

Huile sur toile
Signée et datée en bas à droite
Avec encadrement en bois
59 x 71 cm

Provenance : Collection particulière française.

L'artiste français André Maire (1898-1984) entretint tout au long de sa carrière une relation privilégiée avec l’Indochine, où il effectua de nombreux séjours à partir des années 1920. Le Cambodge occupa une place particulière dans son œuvre, l’artiste ayant voyagé à plusieurs reprises à Angkor dont il étudia les monuments et les paysages environnants. Fasciné par la monumentalité des temples khmers et leur intégration dans la nature tropicale, il consacra une part importante de sa production artiste à ce sujet, participant ainsi à la diffusion en Europe de l’image d’Angkor comme symbole de la grandeur de la civilisation khmère. Dans notre présente composition, les tours du temple d’Angkor Vat apparaissent à l’arrière-plan et situent clairement la scène dans un contexte cambodgien, les figures féminines aux vêtements vifs s'intégrant parfaitement au sein de cette composition.

ANDRÉ MAIRE (1898–1984)
"Những cô gái trẻ Campuchia trước Angkor", 1973

Tranh sơn dầu trên vải bố
Ký tên và ghi niên đại ở góc dưới bên phải
Có khung gỗ
59 x 71 cm

Nguồn gốc : Bộ sưu tập tư nhân Pháp.

Họa sĩ người Pháp André Maire (1898–1984) trong suốt sự nghiệp của mình đã duy trì mối liên hệ đặc biệt với Đông Dương, nơi ông nhiều lần đến lưu trú từ những năm 1920. Campuchia giữ một vị trí quan trọng trong sáng tác của ông; ông đã nhiều lần đến Angkor để nghiên cứu các đền đài và cảnh quan xung quanh.

Bị cuốn hút bởi tính đồ sộ của các đền tháp Khmer và sự hòa nhập của chúng với thiên nhiên nhiệt đới, ông dành một phần quan trọng trong sáng tác cho chủ đề này, góp phần lan tỏa hình ảnh Angkor tại châu Âu như một biểu tượng của nền văn minh Khmer rực rỡ. Trong bố cục này, các tháp của đền Angkor Wat hiện lên ở hậu cảnh, đặt rõ bối cảnh Campuchia cho cảnh tượng, trong khi các nhân vật nữ với trang phục rực rỡ hòa hợp vào toàn bộ bố cục.

Định giá : 5,000 EUR - 6,000 EUR
Xem
Lot: 9
Ⓗ GEORGES KHANH (1905 - ?) "Bach Thai Buoi", 1934

Ⓗ GEORGES KHANH (1905 - ?)

"Bach Thai Buoi", 1934

Bronze à patine brune
Signé, titré et mention du fondeur au revers : « Georges Khánh » (sculpteur et auteur) et « Ng. Huy Hạt » (fondeur).
45,5 × 31 × 26 cm

Georges Khánh réalisa ce rare portrait sculpté de Bạch Thái Bưởi, figure emblématique du patriotisme économique vietnamien. Cette œuvre, exécutée en bronze en 1934, appartient aux créations peu nombreuses connues du sculpteur, l’un des représentants marquants de la première génération de la sculpture indochinoise. Réalisé deux années après la disparition de Bạch Thái Bưởi, ce portrait témoigne de l’admiration et du profond respect de l’artiste envers cet entrepreneur visionnaire et patriote. Dans l’esprit de la sculpture indochinoise des débuts, l’œuvre se distingue par une construction claire et maîtrisée, où le naturalisme s’allie avec finesse à l’étude anatomique héritée de la tradition occidentale, afin de restituer l’âme et le caractère profondément vietnamiens du modèle. Dès le premier regard, le spectateur reconnaît
les traits du célèbre industriel tel qu’il apparaissait de son vivant.

La noblesse du port, l’assurance du regard et la force d’une volonté tournée vers l’émancipation nationale se concentrent dans cette effigie d’un entrepreneur animé par l’ esprit de renouveau et le sentiment patriotique. Georges Khánh saisit avec acuité cette personnalité hors du commun et lui rend hommage à travers une représentation d’ une grande intensité expressive. Par des volumes sobres et rigoureusement structurés, il compose un visage marqué par un large front, un regard résolu et un léger sourire aux lèvres, révélant une sérénité empreinte de confiance et de maîtrise de soi.

Observé sous différents angles, le portrait de Bạch Thái Bưởi révèle non seulement la richesse plastique et la dimension sculpturale de l’œuvre, mais également le profond respect de l’artiste envers son sujet. L’ensemble dégage avec force les qualités de caractère, de dignité et de noblesse associées à l’idéal de l’homme vietnamien. À travers
le temps, les valeurs de modernité, d’indépendance et de vision nationale portées par Bạch Thái Bưởi demeurent aujourd’hui encore d’une remarquable actualité.

GEORGES KHÁNH (1905 - ?)
"Bạch Thái Bưởi", 1934

Chất liệu đồng, lớp phủ patina nâu Ký tên, đề năm, ghi tiêu đề và đề tên người đúc ở sau tác phẩm: “Georges Khánh” và “Ng. Huy Hạt”. Georges Khánh là nhà điêu khắc, tác giả; “Ng. Huy Hạt” là người
thực hiện việc đúc đồng (fondeur).
45.5 x 31 x 26 cm

Bức tượng chân dung doanh nhân yêu nước Bạch Thái Bưởi là tác phẩm hiếm hoi của nhà điêu khắc Georges Khánh, một tên tuổi của điêu khắc Đông Dương thời kỳ đầu. Bức chân dung được sáng tác năm 1934, với chất liệu đồng. Đây là thời điểm hai năm sau khi Bạch Thái Bưởi qua đời, thể hiện tình cảm và sự trân trọng của nghệ sĩ dành cho một doanh nhân yêu nước.

Với phong cách điêu khắc Đông Dương thời kỳ đầu, bức chân dung được thể hiện với tư duy mạch lạc, bút pháp tả thực kết hợp nhuần nhuyễn kỹ thuật giải phẫu khối phương Tây để lột tả tinh thần, cốt cách Việt Nam. Nhìn vào tác phẩm, người xem nhận ra ngay chân dung của nhà tư sản yêu nước Bạch Thái Bưởi ở ngoài đời. Khí chất hào sảng, phong thái của sự bản lĩnh và ý chí tự cường hội tụ trong chân dung của một nhà tư sản yêu nước, luôn mang trong mình khát vọng đổi mới và tinh
thần dân tộc đã được Georges Khánh cảm nhận sâu sắc. Ông thể hiện sự trân trọng, nể phục của mình bằng việc khắc họa sống động bức chân dung vị doanh nhân. Với những hình khối gọn, khúc triết, diện mạo nhân vật tạo ấn tượng với vầng trán cao, ánh mắt kiên định và khóe miệng mỉm cười, bộc lộ nét ung dung, tự tại.

Nhìn từ các chiều cạnh, chân dung Bạch Thái Bưởi không chỉ gợi cảm nhận về giá trị đa chiều của tác phẩm mà còn là bày tỏ sự trân trọng của người nghệ sĩ khi sáng tác về ông, toát lên những yếu tố khí chất và cốt cách con người Việt Nam. Qua thời gian, những tư tưởng tinh hoa mà Bạch Thái Bưởi tiên phong khai mở vẫn vẹn nguyên giá trị trong đời sống đất nước hôm nay.

Định giá : 40,000 EUR - 60,000 EUR
Xem
Lot: 10
Ⓗ NGUYEN PHAN CHANH (1892 - 1984) "Jeune gardienne de buffles", 1938

Ⓗ NGUYEN PHAN CHANH (1892 - 1984)

"Jeune gardienne de buffles", 1938

Encre et couleurs sur soie
Signée en bas à gauche, portant un cachet et une inscription en caractères chinois en haut à droite : « Hồng Nam Nguyễn Phan Chánh ký » (« Signé Nguyễn Phan Chánh, sous le nom d’artiste Hồng Nam »), titrée au revers.
43.5 x 31.5 cm

L’œuvre est reproduite dans l’ouvrage « Nguyễn Phan Chánh - Hồn quê sur soie », 1998, p. 48 (Éditions de Hô Chi Minh-Ville), ainsi que dans l’ouvrage « Nguyen Phan Chanh and Vietnamese Paintings », 1992 (Éditions de Hô Chi Minh-Ville). Elle est accompagnée d’un certificat d’authenticité émis par la famille de l’artiste.

Nguyễn Phan Chánh place constamment la figure féminine au centre de son univers pictural. À travers l’ensemble de son œuvre sur soie, la femme apparaît comme un sujet essentiel, révélant non seulement une orientation esthétique profondément personnelle, mais aussi l’attachement sensible du peintre à la vie rurale vietnamienne et à la présence féminine qui l’ anime.

Dans “Jeune gardienne de buffles”, l’artiste saisit un instant d’une rare poésie au cœur du quotidien. La composition révèle clairement cette intention. Il ne s’agit pas d’une simple scène observée au hasard, mais d’un cadrage soigneusement construit, comme si le peintre avait soudain aperçu un moment fragile de la vie avant de le retenir précieusement, juste avant qu’il ne disparaisse. L’espace du tableau ne s’ouvre pas sur un paysage panoramique ; il demeure au contraire enveloppé, protégé et presque secret. Les grandes branches descendant vers l’eau, le tronc penché, les ombres végétales entourant la jeune fille ou encore la présence du buffle au premier plan composent un espace intime, comme enlacé par la nature elle-même. Le spectateur a l’impression que l’artiste n’observe pas la scène à distance, mais qu’il se trouve tout près, silencieusement perché sur une autre branche, regardant la jeune gardienne de buffle dans un instant de vie simple et profondément émouvant.

Fait remarquable, seule la figure féminine bénéficie d’un traitement pleinement achevé et devient le véritable centre spirituel de l’œuvre. Le buffle n’apparaît qu’en partie, la volaille seulement fragmentairement, le tronc d’arbre n’est qu’un détail, l’eau une simple surface suggérée ; pourtant, chacun de ces éléments suffit à ouvrir l’espace dans l’imagination du spectateur. Cette manière de laisser l’image se prolonger au-delà du cadre confère à la composition sa profondeur et donne le sentiment qu’un monde bien plus vaste existe hors du champ visible.

La jeune fille occupe le centre de la composition sans être pour autant placée au premier plan. Elle se retire légèrement dans la végétation, assise sur une branche basse s’avançant au- dessus de l’eau. Sa posture semble fragile et instable, mais demeure visuellement d’un parfait équilibre. De nombreux détails, au-delà de leur fonction descriptive, servent également à guider le regard, structurer les masses et mettre en valeur la silhouette ainsi que la personnalité du personnage. Nguyễn Phan Chánh traite chaque élément avec une extrême subtilité, de sorte que chaque détail possède à la fois une fonction plastique et une portée expressive.

Particulièrement remarquable est le traitement du corsage traditionnel (« áo yếm »), rendu de manière volontairement diffuse. Le peintre brouille délibérément les limites entre le corps, la lumière et l’atmosphère, de sorte que le regard ne s’attache plus à la structure du vêtement mais perçoit davantage la jeunesse lumineuse de la peau se mêlant à l’ombre des feuillages, à l’humidité de l’air et à la clarté environnante. Cette dissolution des contours confère au corps une présence légère, presque immatérielle, chargée d’une grande sensualité visuelle.

L’harmonie chromatique repose uniquement sur la teinte naturelle de la soie, le noir et deux touches de blanc, mais l’ensemble rayonne pourtant de lumière et de vitalité. Dans la peinture sur soie, la couleur naturelle du support sert souvent à suggérer les zones lumineuses plutôt qu’à modeler les volumes. Ici, le blanc apparaît avec une grande retenue : dans les petites ondulations de l’eau au pied de la jeune fille et dans la fine clarté entourant son corps. Ces deux accents suffisent pourtant à animer tout l’espace du tableau. Les légers cercles à la surface de l’eau traduisent la fraîcheur de l’étang, la vibration du moment et la joie innocente du jeu. Quant à la lumière entourant la silhouette, elle détache subtilement la figure du fond et attire naturellement le regard vers le personnage principal.

Ainsi, malgré une palette extrêmement réduite, l’œuvre possède toute la beauté singulière de la peinture sur soie de Nguyễn Phan Chánh. Avec très peu de moyens, l’artiste suggère
immensément ; par le calme, il évoque le mouvement ; avec seulement quelques nuances fondamentales, il ouvre un univers d’une grande richesse sensible. Pourtant, derrière l’image de cette jeune gardienne de buffle, saine et insouciante, ainsi que celle de l’animal soigneusement entretenu, transparaît également l’idée d’un mode de vie harmonieux propre à la campagne vietnamienne traditionnelle. Nguyễn Phan Chánh semble percevoir dans ces détails modestes les fondements silencieux d’une société juste et humaine. Un enfant élevé dans l’affection familiale, respectueux du travail et correctement éduqué porte déjà en lui les bases d’une vie empreinte d’humanité.

“Jeune gardienne de buffles” exprime ainsi une confiance profonde, à la fois sereine et pleine de douceur, dans l’être humain et dans l’avenir de la société vietnamienne.

NGUYỄN PHAN CHÁNH (1892 - 1984)
"Cô gái trẻ chăn trâu", 1938
Mực và màu trên lụa
Ký tên ở góc dưới bên trái, triện và chữ nho ở phía trên bên phải: Hồng Nam Nguyễn Phan Chánh ký, tiêu đề ở mặt sau.
43.5 x 31.5 cm

Tác phẩm được in trong sách “Nguyễn Phan Chánh - Hồn quê trên lụa” - 1998, trang 48 (NXB TP. Hồ Chí Minh) và sách “Nguyen Phan Chanh and Vietnamese Paintings” - 1992 (NXB TP. Hồ Chí Minh).

Tác phẩm đi kèm giấy xác nhận từ gia đình họa sĩ.
Nhìn lại toàn bộ hệ thống tác phẩm của họa sĩ Nguyễn Phan Chánh, có thể thấy hình tượng người phụ nữ luôn giữ vị trí trung tâm trong thế giới tranh lụa của ông. Sự lựa chọn này không phải ngẫu nhiên mà nó phản ánh một cảm quan thẩm mỹ, tình cảm sâu sắc của ông với người nữ trong đời sống nông thôn Việt Nam.

Tác phẩm "Cô gái trẻ chăn trâu" đã tái hiện khoảnh khắc rất đẹp của đời sống. Bố cục tranh cho thấy điều đó rất rõ. Đây không phải sự ghi chép ngẫu nhiên mà là một khuôn hình được “ghi - cắt” đầy chủ ý, giống như nghệ sĩ bất chợt nhìn thấy một khoảnh khắc mong manh và nhanh chóng giữ lấy trước khi nó tan biến .

Khung cảnh trong tranh không mở rộng theo kiểu phong cảnh toàn cảnh mà được bao bọc và che chắn kín đáo. Những cành cây lớn buông xuống, thân cây nghiêng ra mặt nước, bóng lá phủ quanh nhân vật, dáng trâu ở tiền cảnh… tất cả tạo thành một không gian riêng tư như được thiên nhiên ôm lấy. Người xem có cảm giác họa sĩ không đứng từ xa quan sát mà đang ở rất gần, như thể chính ông đang đứng trên một cành cây khác có vị trí cao hơn, lặng lẽ nhìn xuống cô gái chăn trâu trong một khoảnh khắc đời thường đầy cảm xúc. Điều đặc biệt là trong toàn bộ khung cảnh ấy, chỉ riêng nhân vật nữ được tạo hình đầy đủ và trở thành trung tâm tinh thần của tác phẩm. Con trâu chỉ hiện một phần thân trên, con gà là nửa thân dưới, thân cây chỉ là một góc, mặt nước chỉ là một khoảng, nhưng tất cả đều đủ để người xem tự mở rộng không gian trong trí tưởng tượng. Chính sự “mở tiếp” ấy làm cho bố cục có chiều sâu và tạo cảm giác cả một thế giới rộng lớn đang tồn tại phía ngoài khuôn hình.

Nhân vật cô gái được đặt ở vùng trung tâm nhưng không đưa hắn ra tiền cảnh mà lùi vào trong, hòa nhẹ vào lớp cây lá. Cô ngồi trên một cành cây đang vươn thấp ra mặt nước trong tư thế tưởng như chông chênh nhưng trông lại rất vững chãi về thị giác.

tư thế tưởng như chông chênh nhưng trông lại rất vững chãi về thị giác. Một số những chi tiết nhỏ, ngoài việc miêu tả còn giữ vai trò thu hút điểm nhìn, tách mảng, làm nổi bật hình thể và cá tính của cô gái. Họa sĩ Nguyễn Phan Chánh xử lý từng chi tiết với sự tính toán tinh tế để mọi chi tiết đều vừa có giá trị tạo hình, vừa mang ý nghĩa biểu cảm.

Đặc biệt, phần áo yếm lại được xử lý rất mờ. Nguyễn Phan Chánh cố ý làm nhòe đi ranh giới giữa cơ thể, ánh sáng và không khí, khiến người xem không còn chú ý vào cấu trúc trang phục mà cảm nhận nhiều hơn về làn da thanh xuân khỏe mạnh đang hòa vào bóng cây, hơi nước và ánh sáng. Chính sự “mờ hóa” ấy làm cho cơ thể nhân vật không mang cảm giác vật chất nặng nề mà trở nên nhẹ, mềm và giàu cảm xúc thị giác.

Hòa sắc tranh chỉ gồm màu nền lụa tự nhiên, màu đen và hai điểm màu trắng, nhưng lại đầy ánh sáng và sự sống. Trong tranh lụa, màu nền tự nhiên của lụa thường để diễn tả các khoảng sáng thay màu trắng nhưng không có chức năng dùng để tả khối. Màu trắng xuất hiện rất tiết chế ở hai điểm, những gợn sóng dưới chân cô gái và khoảng sáng mỏng bao quanh cơ thể nhân vật. Chính hai điểm trắng ấy làm toàn bộ không gian đang tĩnh bỗng có nhịp sống. Những vòng sóng nhỏ khiến người xem cảm nhận được cái mát của mặt nước, sự rung động nhẹ của khoảnh khắc và niềm vui nghịch nước rất trẻ thơ. Khoảng sáng quanh thân thể cô gái vừa giúp tách nền hai chi tiết, lại vừa giúp sự tập trung chú ý vào nhân vật chính.

Vì thế, tác phẩm tuy giản dị về màu nhưng lại mang một vẻ đẹp rất riêng của tranh lụa Nguyễn Phan Chánh. Ông dùng ít để gợi nhiều, dùng tĩnh để tả động, chỉ với hai sắc độ cơ bản đã mở ra cả một thế giới đầy màu sắc. Tuy nhiên, ẩn phía sau hình ảnh cô gái chăn trâu khỏe mạnh, vô tư và con trâu được chăm sóc kỹ lưỡng còn thấp thoáng một nền nếp gia đình có lối sống tích cực của người nông thôn Việt Nam xưa. Nguyễn Phan Chánh dường như nhìn thấy trong những điều rất nhỏ ấy nền tảng sâu xa của một xã hội tốt đẹp. Bởi một đứa trẻ được lớn lên trong tình thương gia đình, được giáo dục tốt, biết trân trọng lao động…sẽ xây dựng cho chính mình một đời sống nhân văn. Vì vậy, tác phẩm Cô gái trẻ chăn trâu của họa sĩ Nguyễn Phan Chánh chứa đựng một niềm tin vừa vững chắc trong tâm thế, lại vừa dịu dàng trong cảm xúc vào con người và vào tương lai của xã hội Việt Nam

Định giá : 100,000 EUR - 200,000 EUR
Xem
Lot: 11
Ⓗ NGUYEN PHAN CHANH (1892 - 1984) "Les sœurs du "Nouveau Vietnam" célèbrent le jour de l’Indépendance de la Nation", 1946

Ⓗ NGUYEN PHAN CHANH (1892 - 1984)

"Les sœurs du "Nouveau Vietnam" célèbrent le jour de l’Indépendance de la Nation", 1946

Aquarelle sur papier
Signée en bas à droite, portant un cachet et une inscription en caractères chinois en haut à gauche: « Hồng Nam Nguyễn Phan Chánh bút » («Œuvre réalisée par Nguyễn Phan Chánh, sous le pseudonyme Hồng Nam »), et l’inscription en haut à gauche «Les sœurs vietnamiennes célèbrent le Jour de l’Indépendance nationale », titrée au revers.
50 x 31.5 cm

L’œuvre est reproduite dans l’ouvrage « Tranh lụa Nguyễn Phan Chánh », publié par le Musée des Beaux-Arts du Vietnam, 1992, p. 96.

Nguyễn Phan Chánh choisit ici de représenter deux jeunes femmes Mường dans un paysage caractéristique des montagnes du Nord du Vietnam afin d’évoquer un moment historique particulièrement marquant de la nation après l’Indépendance. L’œuvre fut réalisée en 1946, à une époque où la joie de la liberté retrouvée et l’élan d’un pays entrant dans une ère nouvelle demeuraient profondément présents dans la vie du peuple vietnamien.

Par le biais d’une technique d’aquarelle volontairement simple et d’un langage pictural profondément asiatique, empreint de douceur et de retenue, Nguyễn Phan Chánh ne se contente pas de peindre le portrait de deux femmes des hautes terres : il parvient à traduire l’état d’esprit d’une nation entière. Revêtues de leurs costumes traditionnels, les deux jeunes femmes semblent se fondre dans les sonorités du khèn résonnant au cœur des montagnes du Nord. La scène dégage une atmosphère joyeuse et vivante, tout en conservant cette grâce discrète et pudique si caractéristique de l’œuvre du peintre.

Dans cette composition, la joie de l’Indépendance n’est jamais exprimée par des images héroïques ou une exaltation directement propagandiste. Elle se transforme au contraire en émotion intime, profondément ancrée dans la vie quotidienne. C’est précisément cette retenue qui confère à l’œuvre sa dimension humaine et sa profondeur poétique. L’Indépendance se révèle à travers les regards, les attitudes, le rythme de la musique et l’harmonie entre les figures humaines et l’univers culturel des montagnes du Nord.

L’inscription : « Chị em “Việt-Nam Mới” mừng ngày Độc Lập của Nước-Nhà » possède à la fois une valeur documentaire et la force d’une proclamation fière portée par son époque. Elle résonne comme un vers poétique — une véritable « lạc khoản » en écriture vietnamienne — tout en affirmant un état émotionnel collectif, lorsque la joie du peuple devient le symbole de la joie nationale.

Ainsi, cette œuvre dépasse largement sa seule valeur artistique pour devenir un témoignage culturel et historique d’une grande portée. À travers le regard de l’artiste, le spectateur contemporain peut encore ressentir l’atmosphère enthousiaste des premiers jours de l’Indépendance, ce moment où la liberté nouvellement acquise imprégnait déjà la vie spirituelle, la musique, les costumes et l’âme même du peuple vietnamien.

NGUYỄN PHAN CHÁNH (1892 - 1984)
"Chị em "Việt-Nam Mới" mừng ngày Độc Lập của Nước-Nhà" , 1946

Màu nước trên giấy
Ký tên ở góc dưới bên phải, triện và chữ nho ở phía trên bên trái: Hồng Nam Nguyễn Phan Chánh bút (dịch nghĩa: Bút hoạ của Nguyễn Phan Chánh, hiệu Hồng Nam), góc trên bên trái đề: "Chị em "Việt-Nam Mới" mừng ngày Độc Lập của Nước-Nhà", tiêu đề ở mặt sau

Định giá : 50,000 EUR - 80,000 EUR
Xem
Lot: 12
Ⓗ TON THAT DAO (1910 - 1979) "Cour du palais Ngung Hy, tombeau de Thieu Tri", 1939

Ⓗ TON THAT DAO (1910 - 1979)

"Cour du palais Ngung Hy, tombeau de Thieu Tri", 1939

Huile sur toile
Signée et datée en bas à gauche, titré au verso
55.5 x 69 cm

TÔN THẤT ĐÀO (1910 - 1979)
"Sân điện Ngưng Hy, Lăng Thiệu Trị", 1939

Sơn dầu trên vải
Ký tên và đề năm ở góc dưới bên trái, tiêu đề mở mặt sau
55.5 x 69 cm

Định giá : 18,000 EUR - 22,000 EUR
Xem
Lot: 13
Ⓗ TON THAT DAO (1910 - 1979) "Un coin du mausolée Thieu Tri"

Ⓗ TON THAT DAO (1910 - 1979)

"Un coin du mausolée Thieu Tri"

Huile sur toile
Signée et datée en bas à droite
75 x 35 cm

TÔN THẤT ĐÀO (1910 - 1979)
"Một góc Thiệu lăng"

Sơn dầu trên vải
Ký tên và đề năm ở góc dưới bên phải
75 x 35 cm

Định giá : 12,000 EUR - 15,000 EUR
Xem
Lot: 14
Ⓗ TON THAT DAO (1910 - 1979) "Du Khiem Ta", 1940

Ⓗ TON THAT DAO (1910 - 1979)

"Du Khiem Ta", 1940

Huile sur toile
Signée et datée en bas à droite
58 x 49 cm

TÔN THẤT ĐÀO (1910 - 1979)
"Dũ Khiêm Tạ", 1940

Sơn dầu trên vải
Ký tên và đề năm ở góc dưới bên phải
58 x 49 cm

Định giá : 25,000 EUR - 30,000 EUR
Xem
Lot: 15
Ⓗ TON THAT DAO (1910 - 1979) "Le drapeau de la Cité impériale de Huế", 1940

Ⓗ TON THAT DAO (1910 - 1979)

"Le drapeau de la Cité impériale de Huế", 1940

Huile sur toile
Signée et datée en bas à droite
53 x 73 cm

Lot ccompagné d’un certificat de la famille de l’artiste.

TÔN THẤT ĐÀO (1910 - 1979)
"Kỳ đài Kinh thành Huế", 1940

Sơn dầu trên vải
Ký tên và đề năm ở góc dưới bên phải
53 x 73 cm

Tác phẩm đi kèm giấy xác nhận từ gia đình họa sĩ.

Định giá : 15,000 EUR - 20,000 EUR
Xem
Lot: 16
Ⓗ TON THAT DAO (1910 - 1979) "Printemps de l’année Quý Tỵ", 1953

Ⓗ TON THAT DAO (1910 - 1979)

"Printemps de l’année Quý Tỵ", 1953

Huile sur toile
Signée et datée en bas à droite
65 x 47 cm

Lot accompagné d’un certificat de la famille de l’artiste.

TÔN THẤT ĐÀO (1910 - 1979)
"Xuân Quý Tỵ", 1953

Sơn dầu trên vải
Ký tên và đề ngày, tháng, năm ở góc dưới bên phải
65 x 47 cm

Tác phẩm đi kèm giấy xác nhận từ gia đình họa sĩ.

Định giá : 25,000 EUR - 30,000 EUR
Xem
Lot: 17
Ⓗ TON THAT DAO (1910 - 1979) "Promenade au bord du lac aux lotus de Luu Khiem", 1961

Ⓗ TON THAT DAO (1910 - 1979)

"Promenade au bord du lac aux lotus de Luu Khiem", 1961

Huile sur toile
Signée et datée en bas à gauche
38.5 x 30.5 cm

TÔN THẤT ĐÀO (1910 - 1979)
"Dạo chơi bên hồ sen Lưu Khiêm", 1961

Sơn dầu trên vải
Ký tên và đề năm ở góc dưới bên trái
38.5 x 30.5 cm

Định giá : 15,000 EUR - 20,000 EUR
Xem
Lot: 19
Ⓗ LE PHO (1907 - 2001) "Maternité", 1940

Ⓗ LE PHO (1907 - 2001)

"Maternité", 1940

Encre et couleurs sur soie
Signée et cachetée en haut à droite
26 x 22 cm

Lê Phổ traverse, entre les années 1930 et le début des années 1940, ce que l’on considère aujourd’hui comme la première période de sa création artistique. Durant cette phase initiale, ses œuvres privilégient des compositions épurées, des tonalités délicates et une esthétique profondément ancrée dans la tradition. Son inspiration puise alors essentiellement dans les beautés simples et authentiquement vietnamiennes, exprimées avec une grande sobriété.

Cette scène de maternité porte intensément l’esprit de l’Orient, tant les gestes et les émotions des personnages s’expriment avec retenue et délicatesse. L’espace enveloppant la mère et l’enfant se déploie dans une atmosphère calme et méditative. Lê Phổ saisit ici un instant du quotidien, tout en y inscrivant le respect profond de l’ artiste envers les liens familiaux, et plus particulièrement envers l’amour maternel.

Le voile porté par la mère constitue un élément essentiel de la composition. Il symbolise une quête intérieure, une aspiration spirituelle tournée vers la voie de l’élévation. Par cette dimension, la figure maternelle présente certaines résonances avec l’image de la Vierge protectrice, refuge silencieux où les âmes peuvent trouver réconfort et protection.

LÊ PHỔ (1907 - 2001)
"Tình mẫu tử", 1940

Mực và màu trên lụa
Ký tên và đóng triện ở góc trên bên phải
26 x 22 cm

Từ những năm 1930 đến đầu thập niên 1940 là thời kỳ thứ nhất trong những thời kỳ sáng tác của họa sĩ Lê Phổ. Ở thời kỳ đầu tiên này, những tác phẩm của ông hướng đến bố cục đơn giản và màu sắc nhẹ nhàng, đậm nét truyền thống. Có thể nói đây là thời kỳ mà nguồn cảm hứng chủ đạo của ông vẫn đến từ những vẻ đẹp thuần túy Việt Nam với lối thể hiện giản dị, mộc mạc.

Tác phẩm mẫu tử ở đây đậm một tinh thần Á Đông khi những cử chỉ hay tình cảm của nhân vật toát lên một cách ý nhị. Khung cảnh bao bọc hai mẹ con cũng mang một vẻ trầm mặc yên tĩnh. Họa sĩ Lê Phổ ghi lại một khoảnh khắc của đời sống thường nhật, gửi gắm trong tác phẩm sự trân trọng của người nghệ sĩ trước tình cảm gia đình mà đặc biệt là tình mẫu tử. Chiếc khăn của người mẹ là một chi tiết quan trọng, đại diện cho tinh thần đang tìm kiếm, hướng đến đạo. Nhân vật người mẹ trong tác phẩm vì thế có những điểm tương đồng với Đức Mẹ, nơi những tâm hồn sẽ được chở che.

Định giá : 150,000 EUR - 200,000 EUR
Xem
Lot: 20
Ⓟ LE PHO (1907-2001) "Femme aux lotus blanc"

Ⓟ LE PHO (1907-2001)

"Femme aux lotus blanc"

Encre et couleurs sur soie
Marouflée sur support
Signée et cachet de l'artiste en haut à gauche
Encadrée sous verre
23,5 x 18 cm

Provenance : Collection privée parisienne. Acquis par le père de l’actuel propriétaire, puis conservé par descendance.

Notre présente peinture sur soie reprends l’un des thèmes les plus emblématiques de l'oeuvre picturale de Le Pho. Elle représente avec un cadrage à mi-corps une jeune femme tenant dans ses bras un abondant bouquet de fleurs de lotus blanches. Le cadrage resserré concentre l’attention sur la figure féminine, tandis que l’inclinaison du visage et le regard baissé confèrent à la composition une atmosphère emprunte d'une grande nostalgie.

Le lotus, motif récurrent dans l’œuvre de Le Pho, occupe ici une place centrale. Symbole de pureté et d’élégance dans la culture vietnamienne, il est représenté en pleine floraison, mêlant fleurs épanouies, boutons et larges feuilles qui structurent l’ensemble de la composition. La jeune femme enlace délicatement les fleurs, créant un équilibre recherché entre la figure et l’élément végétal, et un contraste entre la blancheur des fleurs et le rouge du ao dai porté par celle-ci.

L’œuvre témoigne de la parfaite maîtrise de l’artiste dans la technique de la peinture sur soie. La finesse du trait, les dégradés subtils des carnations et la douceur des tonalités traduisent les qualités propres à ce médium. Le fond, traité dans des nuances ocre et vertes délicatement fondues, met en valeur la silhouette du modèle ainsi que les blancs lumineux des fleurs de lotus.


LÊ PHỔ (1907–2001)
"Người phụ nữ với hoa sen trắng"

Mực và màu trên lụa
Dán trên giá đỡ
Ký tên và đóng dấu của nghệ sĩ ở góc trên bên trái
Đóng khung dưới kính
23,5 x 18 cm

Nguồn gốc : Bộ sưu tập tư nhân Paris. Được cha của chủ sở hữu hiện tại mua lại, sau đó được lưu giữ qua nhiều thế hệ trong gia đình.

Bức tranh trên lụa này tái hiện một trong những chủ đề mang tính biểu tượng nhất trong sáng tác của Lê Phổ. Tác phẩm khắc họa một thiếu nữ ở tư thế bán thân, đang ôm trong tay một bó hoa sen trắng dày dặn. Bố cục được thu hẹp giúp tập trung toàn bộ sự chú ý vào nhân vật nữ, trong khi dáng nghiêng và ánh mắt nhìn xuống tạo nên một bầu không khí đầy hoài niệm.

Hoa sen, một mô-típ thường xuyên xuất hiện trong sáng tác của Lê Phổ, giữ vị trí trung tâm trong tác phẩm này. Là biểu tượng của sự thuần khiết và thanh nhã trong văn hóa Việt Nam, hoa sen được thể hiện trong giai đoạn nở rộ, kết hợp giữa hoa nở, nụ và lá lớn tạo cấu trúc cho toàn bộ bố cục. Người phụ nữ nhẹ nhàng ôm lấy những bông hoa, tạo nên sự cân bằng giữa nhân vật và yếu tố thực vật, đồng thời làm nổi bật sự tương phản giữa sắc trắng của hoa và màu đỏ của áo dài.

Tác phẩm thể hiện sự làm chủ tuyệt đối của nghệ sĩ trong kỹ thuật vẽ lụa: đường nét tinh tế, chuyển sắc mềm mại của làn da và gam màu nhẹ nhàng đặc trưng của chất liệu. Phông nền với các sắc độ đất và xanh hòa quyện tinh tế giúp tôn lên hình dáng nhân vật cũng như sắc trắng rực rỡ của hoa sen

Định giá : 50,000 EUR - 80,000 EUR
Xem
Lot: 21
Ⓟ MAI TRUNG THU (1906-1980) "Femme au collier rouge", 1942

Ⓟ MAI TRUNG THU (1906-1980)

"Femme au collier rouge", 1942

Encre et couleur sur soie
Signée, cachet et daté en haut à droite
22,3 x 19 cm à vue

Provenance : Collection privée parisienne. Acquis par le père de l’actuel propriétaire, puis conservé par descendance.

La jeune femme fut l’un des thèmes de prédilection du peintre pionnier de l’art moderne vietnamien Mai Thu (1906-1980) tout au long de sa carrière. Comme le souligne Anne Fort, « la jeune fille […] incarne la liberté nouvelle permise à l’artiste moderne : représenter une femme anonyme pour exalter la beauté, à la fois de l’œuvre et du modèle, est emblématique du renouveau de l’art vietnamien des années 1930 » (1). Il s’agit ainsi d’un sujet majeur pour les artistes issus de École des Beaux-Arts de l’Indochine, qui délaissent progressivement les thèmes historiques, religieux ou légendaires pour accorder une place centrale à la figure humaine et, plus particulièrement, à la représentation féminine.

Datée de 1942, notre présente peinture sur soie appartient à la période charnière de la carrière de Mai Thu, quelques années après son installation en France en 1937. Fidèle à la technique de la peinture sur soie, qu’il contribue à faire connaître auprès du public européen, l’artiste développe alors un répertoire intimiste centré sur la femme vietnamienne, représentée dans des scènes de la vie quotidienne souvent sur des formats de petites tailles.

Ici, un léger rideau blanc s’ouvre sur la droite de la composition, comme pour dévoiler au spectateur une scène privée. La jeune femme, vêtue d’un ai dai blanc d’une grande sobriété, est représentée à mi-corps sur un fond vert pâle. Le regard baissé, elle semble absorbée dans la contemplation de son collier de perles rouges qu’elle tient délicatement entre ses doigts. Ce geste discret et raffiné confère à l’ensemble une atmosphère de calme et d’introspection. Ce sujet fut d’ailleurs exploré à plusieurs reprises par l’artiste, comme en témoigne l’œuvre La Femme au collier rouge, datée de 1945. On y retrouve une jeune femme aux traits similaires, représentée dans une attitude tout aussi intime, jouant délicatement avec un collier rouge devenu l’élément central de la composition. Voir Christie's, 27 septembre 2025 À Hong-Kong, lot 141 (fig. 1)

Cette œuvre illustre parfaitement l’esthétique développée par Mai Thu durant les années 1940. L’artiste privilégie ici la simplicité de la composition, la finesse du dessin et la subtilité des coloris. Les lignes souples des mains, la délicatesse du visage et la transparence caractéristique de la soie témoignent de sa parfaite maîtrise technique. Plus qu’un simple portrait, cette composition constitue une étude de grâce féminine où chaque détail, du rideau entrouvert au bijou délicatement manipulé, participe à la création d’un moment suspendu, caractéristique des œuvres les plus recherchées de l’artiste.

(1) Anne Fort, Mai Thu, écho de l’Orient, Paris, 2014.


MAI TRUNG THỨ (1906–1980)
"Người phụ nữ với vòng cổ đỏ", 1942

Mực và màu trên lụa
Ký tên, đóng dấu và ghi niên đại ở góc trên bên phải
22,3 x 19 cm (kích thước nhìn thấy)

Nguồn gốc : Bộ sưu tập tư nhân Paris. Được cha của chủ sở hữu hiện tại mua lại, sau đó được lưu giữ qua nhiều thế hệ trong gia đình.

Người phụ nữ trẻ là một trong những chủ đề ưa thích của họa sĩ tiên phong của mỹ thuật hiện đại Việt Nam Mai Thứ (1906–1980) trong suốt sự nghiệp của ông. Như Anne Fort đã nhấn mạnh: “Người thiếu nữ […] thể hiện sự tự do mới mà nghệ thuật hiện đại mang lại: việc khắc họa một người phụ nữ vô danh để tôn vinh vẻ đẹp của cả tác phẩm lẫn nhân vật mẫu là biểu tượng cho sự đổi mới của mỹ thuật Việt Nam những năm 1930” (1). Đây là một chủ đề quan trọng đối với các nghệ sĩ xuất thân từ Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, những người dần rời bỏ các đề tài lịch sử, tôn giáo hay truyền thuyết để tập trung vào hình tượng con người, đặc biệt là hình ảnh người phụ nữ.

Được ghi niên đại 1942, bức tranh trên lụa này thuộc giai đoạn chuyển tiếp trong sự nghiệp của Mai Thứ, vài năm sau khi ông định cư tại Pháp vào năm 1937. Trung thành với kỹ thuật vẽ lụa, vốn giúp ông giới thiệu rộng rãi tại châu Âu, nghệ sĩ phát triển một ngôn ngữ mang tính trữ tình, tập trung vào người phụ nữ Việt Nam trong những cảnh sinh hoạt đời thường, thường ở kích thước nhỏ.

Ở đây, một tấm rèm trắng nhẹ mở sang bên phải bố cục như hé lộ một cảnh riêng tư cho người xem. Người phụ nữ trẻ, mặc áo dài trắng giản dị, được đặt nửa thân trên nền xanh nhạt. Ánh mắt cúi xuống, cô đang chăm chú ngắm chuỗi ngọc trai đỏ mà cô nhẹ nhàng cầm trên tay. Cử chỉ tinh tế này tạo nên một bầu không khí tĩnh lặng và nội tâm. Chủ đề này cũng từng được nghệ sĩ khai thác nhiều lần, như trong tác phẩm *La Femme au collier rouge* năm 1945, nơi hình ảnh người phụ nữ với chiếc vòng cổ đỏ trở thành trung tâm của bố cục (Christie’s, 27/09/2025, Hong Kong, lô 141).

Tác phẩm minh họa rõ nét thẩm mỹ của Mai Thứ trong thập niên 1940: sự giản lược trong bố cục, nét vẽ tinh tế và sự chuyển sắc nhẹ nhàng. Đường nét mềm mại của đôi tay, gương mặt thanh tú và độ trong đặc trưng của lụa cho thấy kỹ thuật điêu luyện của ông. Không chỉ là một chân dung, tác phẩm còn là sự nghiên cứu về vẻ đẹp nữ tính, nơi từng chi tiết—từ tấm rèm hé mở đến món trang sức tinh tế—đều góp phần tạo nên một khoảnh khắc lắng đọng, đặc trưng cho những tác phẩm giá trị nhất của nghệ sĩ.

(1) Anne Fort, *Mai Thu, écho de l’Orient*, Paris, 2014.

Định giá : 50,000 EUR - 80,000 EUR
Xem
Lot: 22
Ⓟ MAI TRUNG THU (1906-1980) "Femme au lotus"

Ⓟ MAI TRUNG THU (1906-1980)

"Femme au lotus"

Encre sur papier
Signée et cachet de l'artiste à droite
Portant la mention "Tang Simoni tông hoa quang tet", se traduisant par "Offert à Simoni à l’occasion du Tết".
25,5 x 15 cm (à vue)
(Quelques tâches d'humidité)

Provenance : Collection privée parisienne. Acquis par le père de l’actuel propriétaire, puis conservé par descendance.

MAI TRUNG THỨ (1906–1980)
"Người phụ nữ với hoa sen"

Mực trên giấy
Ký tên và đóng dấu của nghệ sĩ ở bên phải
Có ghi dòng chữ “Tang Simoni tông hoa quang tết”, dịch là “Tặng Simoni nhân dịp Tết”
25,5 x 15 cm (kích thước nhìn thấy)
(Một số vết ố do ẩm)

Nguồn gốc : Bộ sưu tập tư nhân Paris. Được cha của chủ sở hữu hiện tại mua lại, sau đó được lưu giữ qua nhiều thế hệ trong gia đình.

Định giá : 8,000 EUR - 12,000 EUR
Xem
Lot: 23
® LE QUOC LOC (1918-1987) “Vue de la Baie", 1942

® LE QUOC LOC (1918-1987)

“Vue de la Baie", 1942

Ensemble de deux panneaux en laque polychrome formant diptyque
Daté et signé en bas à droite
60 x 80 cm (chaque panneau)

Provenance : Collection particulière française. Acquis à Hanoï avant 1956 par André Mas (1920-2008), né dans cette ville au sein d'une famille de fonctionnaires de l'administration française et y ayant lui-même exercé des fonctions administratives. Conservés au sein de la descendance familiale après le départ du Vietnam pour la France en 1956, l’œuvre fut ensuite transmis à sa fille, née à Saïgon, puis par descendance.

*Ce lot est présent à La Réunion. Il est vendu sur désignation. L'adresse pour l'enlèvement de l'œuvre sera communiquée à l'acquéreur lors de l'émission du bordereau d'adjudication.





Lê Quốc Lộc (1918-1987) compte parmi les grands maîtres de la laque vietnamienne du XXe siècle. Né dans la province de Hưng Yên, il évolue dans l'environnement artistique de l'École des Beaux-Arts de l'Indochine, dont il partage pleinement les recherches esthétiques et technique. Dans les années 1940, il ouvre un atelier professionnel à Hanoï et participe activement à la vie artistique de la capitale. Comme de nombreux artistes de sa génération, il fournit alors la Salle des ventes de la Coopérative des Artistes Indochinois, créée en 1938 par Évariste Jonchère, successeur de Victor Tardieu à la tête de l'École des Beaux-Arts de l'Indochine. Les œuvres présentées y étaient sélectionnées sous le contrôle de Joseph Inguimberty, assisté de Trần Văn Cẩn, garantissant un haut niveau d'exigence artistique.
Le paysage constitue l'un des thèmes majeurs de son œuvre et fut décliné sous de multiples formes, depuis les grands paravents jusqu'aux panneaux isolés ou diptyques, comme notre présente composition. Dans ces paysages lacustres idéalisés, villages, embarcations, bambouseraies et végétation luxuriante se fondent dans une atmosphère capturant l’essence même de la ruralité de son pays natal.
Le sujet développé ici est caractéristique de sa production des années 1940, période durant laquelle l'artiste atteint une remarquable maîtrise technique. Il affectionne particulièrement les compositions où la végétation encadre la scène : arbres en fleurs, bananiers, bambous et essences locales structurent l'espace tout en créant des effets décoratifs particulièrement spectaculaire compte-tenu du matériau. En effet, sur le plan technique, Lê Quốc Lộc est considéré comme l'un des plus grands praticiens de la laque vietnamienne de son temps. Il exploite avec virtuosité les contrastes entre surfaces mates et brillantes, les superpositions de couches colorées et les effets de profondeur obtenus par le polissage successif. Son usage audacieux du rouge cinabre, des noirs profonds et des rehauts dorés confère à ses paysages une dimension presque irréelle. Dans ses compositions les plus abouties, les premiers plans sont construits à l'aide d'aplats colorés et de contours précis, tandis que les arrière-plans se dissolvent dans des transparences délicates évoquant parfois davantage l'aquarelle que la laque traditionnelle.
Le thème représenté sur notre panneau trouve plusieurs parallèles dans le corpus artistique de l'artiste. Un panneau de composition comparable, daté de 1943, a notamment été présenté chez Christie's à Hong Kong le 27 novembre 2016 (lot 418). Un diptyque très comparable fut présenté par notre étude à l’occasion de la vente Dupleix – Art du Vietnam du 11 avril 2026, sous le lot 39.


LÊ QUỐC LỘC (1918–1987)
“Phong cảnh vịnh”, 1942


Bộ hai tấm sơn mài đa sắc tạo thành tranh đôi (diptyque)

Ký tên và ghi niên đại ở góc dưới bên phải

60 x 80 cm (mỗi tấm)

Nguồn gốc: Bộ sưu tập tư nhân Pháp. Được André Mas (1920–2008) mua tại Hà Nội trước năm 1956. Ông sinh ra tại thành phố này trong một gia đình công chức thuộc chính quyền Pháp và bản thân cũng từng đảm nhiệm các chức vụ hành chính tại đây. Sau khi rời Việt Nam sang Pháp vào năm 1956, tác phẩm được lưu giữ trong gia đình, sau đó truyền lại cho người con gái sinh tại Sài Gòn và tiếp tục được gìn giữ qua nhiều thế hệ.

Lê Quốc Lộc (1918–1987) là một trong những bậc thầy lớn của nghệ thuật sơn mài Việt Nam thế kỷ XX. Sinh tại tỉnh Hưng Yên, ông trưởng thành trong môi trường nghệ thuật của Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, nơi ông tiếp thu sâu sắc những tìm tòi về mỹ thuật và kỹ thuật của thế hệ nghệ sĩ đương thời. Trong những năm 1940, ông mở xưởng sáng tác tại Hà Nội và tham gia tích cực vào đời sống nghệ thuật của thủ đô. Cũng như nhiều nghệ sĩ cùng thế hệ, ông cộng tác với Phòng đấu giá của Hợp tác xã Nghệ sĩ Đông Dương, được thành lập năm 1938 bởi Évariste Jonchère, người kế nhiệm Victor Tardieu. Các tác phẩm được tuyển chọn dưới sự giám sát của Joseph Inguimberty cùng họa sĩ Trần Văn Cẩn, bảo đảm tiêu chuẩn nghệ thuật cao.

Phong cảnh là một trong những đề tài chủ đạo trong sáng tác của ông và được thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau, từ những bình phong lớn cho đến các tấm đơn hoặc tranh đôi như tác phẩm hiện tại. Trong những phong cảnh sông nước mang tính lý tưởng hóa này, làng quê, thuyền bè, lũy tre và thảm thực vật xanh tốt hòa quyện trong một bầu không khí gợi lên bản chất sâu xa của đời sống nông thôn Việt Nam.

Đề tài được thể hiện ở đây là đặc trưng cho giai đoạn sáng tác những năm 1940, thời kỳ nghệ sĩ đạt tới trình độ kỹ thuật xuất sắc. Ông đặc biệt yêu thích những bố cục mà cây cối bao quanh khung cảnh: cây ra hoa, chuối, tre và nhiều loài cây bản địa vừa tạo nên cấu trúc không gian vừa mang lại hiệu quả trang trí nổi bật nhờ chất liệu sơn mài.

Về mặt kỹ thuật, Lê Quốc Lộc được xem là một trong những nghệ nhân sơn mài xuất sắc nhất của thời đại mình. Ông khai thác điêu luyện sự tương phản giữa bề mặt mờ và bóng, sự chồng lớp màu sắc và hiệu ứng chiều sâu tạo ra từ quá trình mài nhiều lần. Việc sử dụng táo bạo sắc đỏ son, những mảng đen sâu thẳm và các điểm nhấn ánh vàng mang đến cho phong cảnh của ông một vẻ đẹp gần như siêu thực. Trong những tác phẩm thành công nhất, tiền cảnh được xây dựng bằng các mảng màu phẳng với đường nét rõ ràng, trong khi hậu cảnh tan dần trong những lớp sắc độ trong trẻo, đôi khi gợi cảm giác gần với tranh màu nước hơn là sơn mài truyền thống.

Chủ đề được thể hiện trên bộ tranh này có nhiều điểm tương đồng với các tác phẩm khác trong sự nghiệp của nghệ sĩ. Một tấm sơn mài có bố cục tương tự, ghi niên đại 1943, đã được giới thiệu tại phiên đấu giá của Christie's ở Hồng Kông ngày 27 tháng 11 năm 2016 (lô số 418). Một bộ tranh đôi rất gần với tác phẩm này cũng đã được giới thiệu bởi nhà đấu giá Dupleix trong phiên *Dupleix – Nghệ thuật Việt Nam* ngày 11 tháng 4 năm 2026, lô số 39.

Định giá : 80,000 EUR - 120,000 EUR
Xem
Lot: 24
Ⓟ LE THY (1919-1961) "Sampans dans la baie"

Ⓟ LE THY (1919-1961)

"Sampans dans la baie"

Paire de panneaux en laque polychrome, formant diptyque
Signé en bas à gauche
120 x 120 cm

Provenance : Collection privée de la région parisienne.

LÊ THI (1919–1961)
"Thuyền tam bản trong vịnh"

Cặp tấm sơn mài đa sắc, tạo thành một bộ tranh hai tấm
Ký tên ở góc dưới bên trái
120 x 120 cm

Nguồn gốc : Bộ sưu tập tư nhân khu vực Paris.

Định giá : 30,000 EUR - 40,000 EUR
Xem
Lot: 25
Ⓟ PHAM HAU (1903-1995) "La pagode Thay"

Ⓟ PHAM HAU (1903-1995)

"La pagode Thay"

Panneau en bois laqué polychrome
Signé et cachet en bas à droite
125 x 78 cm

Provenance : Collection particulière française. Les deux panneaux furent acquis à Hanoï avant 1942 par Henri Prêtre, fonctionnaire au Ministère des Colonies, qui effectua l'essentiel de sa carrière en Indochine, notamment à Saïgon, Phnom Penh et Hanoï. Affecté à Hanoï de 1937 à 1947, il quitta le Tonkin au début de l'année 1948 en raison de l'évolution du conflit. Il avait auparavant été chargé, à Paris, de participer à la préparation du pavillon de l'Indochine pour l'Exposition universelle de 1937. Transmis par descendance aux actuels propriétaires.

PHẠM HẬU (1903–1995)
"Chùa Thầy"

Tranh sơn mài đa sắc trên ván gỗ
Ký tên và đóng triện ở góc dưới bên phải
125 x 78 cm

Nguồn gốc : Bộ sưu tập tư nhân tại Pháp. Hai bức bình phong này được ông Henri Prêtre mua tại Hà Nội trước năm 1942. Ông là một viên chức của Bộ Thuộc địa Pháp (Ministère des Colonies) và đã dành phần lớn sự nghiệp của mình tại Đông Dương, đặc biệt ở Sài Gòn, Phnom Penh và Hà Nội. Được bổ nhiệm công tác tại Hà Nội từ năm 1937 đến năm 1947, ông rời Bắc Kỳ vào đầu năm 1948 do diễn biến của cuộc xung đột. Trước đó, tại Paris, ông từng tham gia công tác chuẩn bị Gian hàng Đông Dương cho Triển lãm Thế giới năm 1937. Hai tác phẩm sau đó được truyền lại theo dòng thừa kế cho các chủ sở hữu hiện nay.

Định giá : 50,000 EUR - 70,000 EUR
Xem
Lot: 26
Ⓟ PHAM HAU (1903-1995) "Les poissons rouges avec l'abondance"

Ⓟ PHAM HAU (1903-1995)

"Les poissons rouges avec l'abondance"

Panneau en bois laqué polychrome
Signé et cachet de l'artiste en bas à droite
130,5 x 72 cm
(Légers manques, petit accident sur 4 cm vers en bas à gauche, légères usures)

Provenance : Collection particulière française. Les deux panneaux furent acquis à Hanoï avant 1942 par Henri Prêtre, fonctionnaire au Ministère des Colonies, qui effectua l'essentiel de sa carrière en Indochine, notamment à Saïgon, Phnom Penh et Hanoï. Affecté à Hanoï de 1937 à 1947, il quitta le Tonkin au début de l'année 1948 en raison de l'évolution du conflit. Il avait auparavant été chargé, à Paris, de participer à la préparation du pavillon de l'Indochine pour l'Exposition universelle de 1937. Transmis par descendance aux actuels propriétaires.



Né en 1903 dans le village de Dong Ngac, près de Hanoi, Pham Hau passe ses premières années de formation dans l’atelier de Nam Son (Nguyen Van Tho, 1890-1973). Cette rencontre fondatrice marque profondément son parcours artistique : auprès de ce pionnier de la peinture moderne vietnamienne, il reçoit une solide formation académique tout en développant un langage plastique raffiné et personnel. Il intègre ensuite avec succès la cinquième promotion de École Supérieure des Beaux-Arts d’Indochine entre 1929 et 1934.

À l’issue de ses études, Pham Hau ouvre son propre atelier de laque dans son village natal de Dong Ngac. Victor Tardieu, alors directeur de l’École, lui confie sa première commande importante. En 1935, lors de la première exposition organisée par la Société Annamite d’Encouragement à l’Art et à l’Industrie (SADEAI) à Hanoi, il obtient la médaille d’or pour ses peintures. Son nom figure ensuite dans Souverains et notabilités d’Indochine, publié par le Gouvernement général de l’Indochine en 1943, consacrant rapidement sa place parmi les plus grands artistes vietnamiens de sa génération.

En 1944, il organise une exposition à la maison d’information Trang Tien aux côtés du peintre Nguyen Gia Tri (1908-1993). L’année suivante, en reconnaissance de sa contribution majeure au développement de la laque vietnamienne, il reçoit la médaille du Dragon d’Annam ainsi que la médaille de l’Académie de Hanlin décernée par l’empereur Bao Dai. Sa renommée solidement établie, son exposition personnelle de 1949 à Trang Tien rencontre un vif succès. Cette même année, il fonde l’École nationale d’artisanat avec les peintres Tran Van Du et Tran Quang Tran (1900-1969). En 1953, ses laques sont présentées en Thaïlande où elles remportent un nouvel accueil triomphal.

Tout au long de sa carrière, Pham Hau expérimenta avec virtuosité les ressources techniques de la laque, poussant ce médium à un degré de perfection rare. Tout particulièrement sensible à la nature et à ses interprétations symboliques, il développa ce thème : « Les poissons rouges et l'abondance ». En effet, dans plusieurs de ses compositions, le motif du poisson rouge occupe une place particulière : symbole de prospérité et d’abondance dans la culture vietnamienne, sa charge symbolique en est renforcée par les jeux de laque utilisés pour rendre les écailles des poissons et le mouvement des algues, sur un fond uni de laque rouge, invitant le spectateur au spectacle que l'artiste offre de la nature.


PHẠM HẬU (1903–1995)
"Cá vàng và sự sung túc"

Tấm sơn mài đa sắc trên gỗ
Ký tên và đóng dấu của nghệ sĩ ở góc dưới bên phải
130,5 x 72 cm
(Thiếu hụt nhẹ, một vết hư hỏng nhỏ khoảng 4 cm ở phía dưới bên trái, mài mòn nhẹ theo thời gian)

Nguồn gốc : Bộ sưu tập tư nhân Pháp

Sinh năm 1903 tại làng Đông Ngạc, gần Hà Nội, Phạm Hậu trải qua những năm tháng đào tạo đầu tiên trong xưởng của Nam Sơn (Nguyễn Văn Thọ, 1890–1973). Cuộc gặp gỡ mang tính nền tảng này đã định hình sâu sắc con đường nghệ thuật của ông: bên cạnh một trong những người tiên phong của hội họa hiện đại Việt Nam, ông tiếp thu một nền đào tạo hàn lâm vững chắc đồng thời phát triển một ngôn ngữ tạo hình tinh tế và mang dấu ấn cá nhân. Sau đó, ông theo học khóa V của Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương (1929–1934) và tốt nghiệp xuất sắc.

Sau khi học xong, Phạm Hậu mở xưởng sơn mài tại quê nhà Đông Ngạc. Victor Tardieu, khi đó là giám đốc trường, đã giao cho ông đơn đặt hàng quan trọng đầu tiên. Năm 1935, tại triển lãm đầu tiên do Hội Khuyến khích Nghệ thuật và Công nghiệp An Nam (SADEAI) tổ chức tại Hà Nội, ông giành huy chương vàng cho các tác phẩm hội họa. Tên tuổi của ông sau đó xuất hiện trong ấn phẩm “Souverains et notabilités d’Indochine” do Chính phủ Toàn quyền Đông Dương xuất bản năm 1943, khẳng định vị thế của ông trong số những nghệ sĩ lớn nhất của thế hệ mình.

Năm 1944, ông tổ chức triển lãm tại nhà thông tin Tràng Tiền cùng với họa sĩ Nguyễn Gia Trí. Năm sau, ghi nhận đóng góp lớn cho sự phát triển của sơn mài Việt Nam, ông được trao Huy chương Rồng An Nam và Huy chương Viện Hàn lâm Hanlin do hoàng đế Bảo Đại phong tặng. Danh tiếng ngày càng vững chắc, triển lãm cá nhân năm 1949 tại Tràng Tiền của ông đạt thành công lớn. Cùng năm, ông đồng sáng lập Trường Mỹ nghệ Quốc gia cùng với các họa sĩ Trần Văn Du và Trần Quang Trân. Năm 1953, các tác phẩm sơn mài của ông được trưng bày tại Thái Lan và tiếp tục nhận được sự đón nhận nồng nhiệt.

Trong suốt sự nghiệp, Phạm Hậu không ngừng thử nghiệm và khai thác kỹ thuật sơn mài ở mức độ tinh vi, đưa chất liệu này đến độ hoàn thiện hiếm có. Rất nhạy cảm với thiên nhiên và các biểu tượng của nó, ông đặc biệt phát triển chủ đề “Cá vàng và sự sung túc”. Trong nhiều bố cục, hình ảnh cá vàng chiếm vị trí trung tâm như một biểu tượng của sự thịnh vượng trong văn hóa Việt Nam. Giá trị biểu tượng này được tăng cường bởi cách xử lý sơn mài tinh tế, đặc biệt ở hiệu ứng vảy cá và chuyển động của rong nước trên nền son đỏ, mang đến cho người xem một trải nghiệm thẩm mỹ sống động về thiên nhiên do họa sĩ tái hiện.


Nguồn gốc : Bộ sưu tập tư nhân tại Pháp. Hai bức bình phong này được ông Henri Prêtre mua tại Hà Nội trước năm 1942. Ông là một viên chức của Bộ Thuộc địa Pháp (Ministère des Colonies) và đã dành phần lớn sự nghiệp của mình tại Đông Dương, đặc biệt ở Sài Gòn, Phnom Penh và Hà Nội. Được bổ nhiệm công tác tại Hà Nội từ năm 1937 đến năm 1947, ông rời Bắc Kỳ vào đầu năm 1948 do diễn biến của cuộc xung đột. Trước đó, tại Paris, ông từng tham gia công tác chuẩn bị Gian hàng Đông Dương cho Triển lãm Thế giới năm 1937. Hai tác phẩm sau đó được truyền lại theo dòng thừa kế cho các chủ sở hữu hiện nay.

Hauteur: 130.0 cm Largeur: 72.0 cm
Định giá : 50,000 EUR - 70,000 EUR
Xem
Lot: 27
Ⓗ MAI TRUNG THU (1906 - 1980) "Rêverie", 1944

Ⓗ MAI TRUNG THU (1906 - 1980)

"Rêverie", 1944

Huile sur soie marouflée sur carton
Signée, cachetée et datée en haut à gauche
23.2 × 15 cm

Mai Trung Thứ fait revivre, à travers son univers artistique, les battements silencieux de la vie vietnamienne d’autrefois. Fidèle à sa conviction profonde, il considérait que son art devait s’exprimer sur la soie asiatique. Refusant de céder aux évolutions esthétiques de son époque, il préserva ainsi une remarquable cohérence stylistique tout en maintenant dans son œuvre une identité profondément vietnamienne.

L’œuvre présentée ici transporte le spectateur dans un intérieur ordonné et raffiné du passé. Le rideau jaune, élément central de la composition, évoque discrètement le rang privilégié et le statut élevé de la demeure. L'artiste introduit son personnage à travers les traits idéalisés d’une femme vertueuse et bienveillante. La jeune épouse apparaît absorbée dans ses pensées. La douceur des sourcils délicatement arqués et la finesse des traits du visage semblent encore davantage mises en valeur par une expression empreinte de détermination et de dignité intérieure. La figure féminine réunit ainsi les signes d’une éducation raffinée et d’un héritage familial harmonieux. L’un des aspects particulièrement subtils de l’œuvre réside dans son harmonie chromatique : quelques accents rouge-orangé viennent illuminer la chevelure noire de la jeune femme, créant un contraste délicat qui attire naturellement le regard et confère à la composition toute sa vibration visuelle.

MAI TRUNG THỨ (1906 - 1980)
"Mơ màng", 1944

Sơn dầu trên lụa dán trên bìa cứng
Ký tên, đóng triện và đề năm ở góc trên bên trái
23.2 x 15 cm

Trong thế giới nghệ thuật Mai Trung Thứ, ta cảm nhận nhịp đập của đời sống xưa. Họa sĩ Mai Trung Thứ kiên định rằng nghệ thuật của ông phải được biểu hiện trên nền lụa của châu Á. Ông đã khước từ những đổi thay của vận hội đương thời. Việc này đảm bảo cho sự độc đáo nhất quán khi xét đến phong cách Mai Trung Thứ, đồng thời giữ gìn được một bản sắc đậm đà tính Việt trong những sáng tác của ông.

Tác phẩm hiện tại đưa ta về quá khứ, trong một không gian nội thất ngăn nắp, tấm rèm vàng biểu thị thân phận quyền quý của người chủ. Họa sĩ giới thiệu nhân vật của mình bằng những nét đẹp chuẩn mực của một người phụ nữ phúc hậu. Thiếu phụ đang suy tư. Vẻ đẹp mềm mại ở đôi lông mày cong và sự thanh tú của ngũ quan dường như nổi bật hơn khi được ở cùng một thần thái cương nghị. Nhân vật nữ ở đây là sự hội tụ của những chỉ dấu về nề nếp và gia phong tốt đẹp. Một điểm thú vị ở hòa sắc của tác phẩm tạo điểm nhấn cho thị giác là màu đỏ cam tô điểm trên mái tóc đen.

Định giá : 40,000 EUR - 60,000 EUR
Xem
Lot: 28
Ⓗ TA THUC BINH (1917 - 1998) "Le héros du peuple - Hoang Hoa Tham"

Ⓗ TA THUC BINH (1917 - 1998)

"Le héros du peuple - Hoang Hoa Tham"

Encre et couleurs sur soie
Signée en bas à droite
63 x 82 cm

Tạ Thúc Bình représente ici, à travers une composition équilibrée et solidement construite, le portrait du grand chef de l’insurrection de Yên Thế : Hoàng Hoa Thám. Sur le support traditionnel de la soie, l’artiste associe avec maîtrise les principes académiques occidentaux de construction du portrait à une sensibilité expressive profondément orientale, donnant naissance à une figure historique à la fois réaliste et chargée de présence spirituelle.

Tạ Thúc Bình était particulièrement reconnu pour son talent dans les compositions à plusieurs personnages et dans l’art du portrait psychologique. Le « Tigre sacré de Yên Thế » apparaît ici au cœur des paysages montagneux qui servirent autrefois de refuge aux insurgés. La nature environnante — forêts épaisses, rochers superposés, modeste abri dissimulé dans la végétation — est traitée avec un réalisme précis qui apporte profondeur visuelle et densité historique à la scène. Ce décor évoque directement l’ univers des maquis de Yên Thế durant la résistance contre la présence coloniale française. Au centre de la composition, Hoàng Hoa Thám se tient debout dans une attitude silencieuse et majestueuse. Une main posée sur un rocher, le corps solidement ancré, le visage déterminé, la longue barbe et le regard porté au loin composent l’image d’ un chef expérimenté, doté d’une force intérieure remarquable. Tạ Thúc Bình choisit de le représenter vêtu d’un áo dài noir associé à un pantalon blanc traditionnel — tenue fréquemment visible dans les documents historiques consacrés à Đề Thám — renforçant ainsi l’authenticité du personnage.

Il est particulièrement intéressant de constater que le peintre ne réduit pas Hoàng Hoa Thám à la seule image d’un chef militaire. Dans son attitude calme et méditative apparaît également la silhouette d’un lettré patriote. L’esprit du guerrier et la noblesse intellectuelle coexistent ici dans une même figure, donnant au héros national une véritable profondeur psychologique et morale. Son regard lointain semble encore habité par les réflexions sur le destin du pays et les bouleversements de son époque. À l’arrière-plan, l'artiste introduit avec subtilité plusieurs soldats vêtus de simples habits paysans. Leur présence ne sert pas uniquement l’équilibre de la composition ; elle souligne également l’esprit de solidarité populaire et la force collective qui permirent à l’insurrection de Yên Thế de se prolonger durant près de trois décennies. Grâce à la douceur de la soie et à une harmonie chromatique aux tonalités chaudes et retenues, l’œuvre évite tout effet dramatique excessif pour privilégier une atmosphère grave, méditative et empreinte de dignité. Cette retenue confère précisément à la figure du général Hoàng Hoa Thám une portée dépassant le simple portrait historique : il devient ici un symbole spirituel de la résistance et de la fierté nationale vietnamienne du début du XXe siècle.

TẠ THÚC BÌNH (1917 - 1998)
"Anh hùng áo vải - Hoàng Hoa Thám"

Mực và màu trên lụa
Ký tên ở góc dưới bên phải
63 x 82cm

Với bố cục cân đối, chắc khỏe cùng khả năng tổ chức không gian giàu chiều sâu, họa sĩ Tạ Thúc Bình đã khắc họa chân dung vị thủ lĩnh kiệt xuất của cuộc khởi nghĩa Yên Thế – Tướng quân Hoàng Hoa Thám. Trên nền chất liệu lụa truyền thống, nghệ sĩ vận dụng nhuần nhuyễn kỹ thuật tạo hình hàn lâm phương Tây với tinh thần biểu đạt Á Đông để tái hiện một hình tượng lịch sử vừa chân thực, vừa giàu khí chất.

Họa sĩ Tạ Thúc Bình vốn nổi tiếng với khả năng xử lý những bố cục nhiều nhân vật và diễn tả chân dung giàu cá tính. Hình tượng “Hùm thiêng Yên Thế” hiện lên trong không gian núi rừng của căn cứ nghĩa quân năm xưa. Khung cảnh thiên nhiên được tả thực với cây rừng rậm rạp, những khối đá chồng xếp, chiếc lán đơn sơ thấp thoáng…, không chỉ tạo chiều sâu thị giác mà còn gợi một không gian lịch sử cụ thể, nơi từng che chở và bảo vệ nghĩa quân Yên Thế trong kháng chiến chống Pháp. Ở trung tâm bố cục, Hoàng Hoa Thám xuất hiện với dáng đứng lặng lẽ, hiên ngang. Một tay đặt lên tảng đá, thân hình vững chãi, gương mặt cương nghị, chòm râu dài cùng ánh mắt nhìn xa tạo nên thần thái của một vị thủ lĩnh từng trải, bản lĩnh và đầy nội lực. Tạ Thúc Bình lựa chọn trang phục áo dài đen kết hợp quần lĩnh trắng, hình ảnh quen thuộc trong các tư liệu lịch sử về Đề Thám– như một cách tăng thêm tính xác thực cho hình tượng nhân vật.

Điều đáng chú ý là họa sĩ không xây dựng Hoàng Hoa Thám đơn thuần như một võ tướng trận mạc. Trong phong thái trầm tĩnh và ánh nhìn suy tư của nhân vật còn thấp
thoáng dáng vẻ của một nhà nho yêu nước. Chất võ biền và khí chất văn nhân cùng tồn tại trong một con người, tạo nên chiều sâu tâm lý và bản lĩnh tinh thần của vị anh hùng dân tộc. Ánh mắt xa xăm như còn chất chứa những nghĩ suy trước vận mệnh đất nước và thời cuộc.

Phía sau hình tượng Hoàng Hoa Thám, Họa sĩ khéo léo đưa vào hình ảnh những người lính áo vải như một chi tiết tạo hình giàu ý nghĩa. Sự xuất hiện của họ không chỉ giúp hoàn chỉnh cấu trúc bố cục mà còn nhấn mạnh tinh thần đoàn kết, sức mạnh quần chúng, góp phần làm nên cuộc khởi nghĩa Yên Thế kéo dài gần ba thập kỷ. Trên chất lụa mềm mại với hòa sắc trầm ấm, tác phẩm không thiên về kịch tính mà tạo nên một cảm giác lắng đọng, uy nghiêm và đầy khí phách. Chính sự tiết chế ấy đã giúp hình tượng Tướng quân Hoàng Hoa Thám hiện lên không chỉ là một nhân vật lịch sử, mà còn như biểu tượng tinh thần của ý chí kháng cự và lòng tự tôn dân tộc Việt Nam đầu thế kỷ XX.

Định giá : 10,000 EUR - 15,000 EUR
Xem
Lot: 29
Ⓗ TRAN QUANG TRAN (1900 - 1969) "Lumière du matin"

Ⓗ TRAN QUANG TRAN (1900 - 1969)

"Lumière du matin"

Huile sur panneau
Signée en bas à gauche
49.5 x 59.5 cm

Trần Quang Trân est considéré comme l’un des premiers artistes à avoir exploré la peinture sur laque à l’École des Beaux-Arts de l’Indochine. Pourtant, le corpus de son œuvre parvenu jusqu’à nous demeure relativement restreint. L’artiste se consacra principalement à la peinture de paysage à l’aquarelle, privilégiant les scènes rurales simples et empreintes de modestie.

“Lumière du matin” compte parmi les rares peintures à l’huile connues de Trần Quang Trân. Dans cette œuvre, la beauté d’un paysage villageois s’illumine d’une vitalité discrète sous les premières lueurs du matin. Les branches et les racines noueuses des grands arbres occupent l’avant-plan, structurant tout l’espace de la composition. La lumière du soleil projette les ombres des feuillages sur le sol, créant un jeu subtil de clarté et de pénombre. Au cœur de cette atmosphère apparaît une modeste maison au toit de chaume ainsi que la silhouette frêle d’une femme se tenant dans la lumière, suscitant un sentiment de paix silencieuse teinté d’une légère mélancolie. La richesse expressive de la peinture à l’huile apporte ici une sensibilité nouvelle dans l’œuvre de Trần Quang Trân. À la différence des tonalités souvent méditatives de ses aquarelles, “Lumière du matin” révèle une autre approche du paysage chez l’artiste. La vitalité et la poésie de la campagne vietnamienne y sont traduites à travers les premiers rayons du jour, formant des rythmes lumineux et des contrastes d’ombre d’une grande musicalité visuelle.

TRẦN QUANG TRÂN (1900 - 1969)
"Nắng sớm"

Sơn dầu trên tấm gỗ
Ký tên ở góc dưới bên trái
49.5 x 59.5 cm

Được nhắc đến là một trong những nghệ sĩ đầu tiên sáng tác hội họa sơn mài tại Trường Mỹ thuật Đông Dương, di sản mỹ thuật của họa sĩ Trần Quang Trân còn lại đến hôm nay không nhiều. Ông thiên về vẽ tranh phong cảnh với chất liệu màu nước và thường thích những cảnh sắc mộc mạc, đơn sơ.

“Nắng sớm” là một trong số ít những bức tranh sơn dầu của họa sĩ Trần Quang Trân. Trong tác phẩm, vẻ đẹp phong cảnh làng quê mộc mạc ánh lên đầy sức sống dưới nắng ban mai. Những cành cây, gốc rễ cổ thụ chiếm trọn không gian tiền cảnh. Ánh nắng in hình cây lá tạo bóng râm đổ dài trên mặt đất. Trong không gian ấy, điểm nhấn thị giác tập trung vào hình ảnh ngôi nhà tranh đơn sơ, hình dáng nhỏ bé của người phụ nữ đứng trong bóng nắng, khơi gợi một cảm giác yên bình phảng phất nét cô đơn. Ngôn ngữ giàu biểu cảm của chất liệu sơn dầu đã mang đến những cảm xúc mới trong sáng tác của họa sĩ Trần Quang Trân. So với những tác phẩm màu nước mang sắc màu trầm mặc thường thấy ở ông, “Nắng sớm” mang đến một góc nhìn khác về tranh phong cảnh của họa sĩ. Sức sống và sự nên thơ trong cảnh sắc làng quê được mô tả qua những vệt nắng đầu ngày, tạo thành những mảng sáng tối giàu nhịp điệu.

Định giá : 25,000 EUR - 30,000 EUR
Xem
Lot: 30
Ⓗ VU CAO DAM (1908 - 2000) "Éclat printanier"

Ⓗ VU CAO DAM (1908 - 2000)

"Éclat printanier"

Encre et couleurs sur soie
Signée en bas à gauche
60.5 × 46 cm

Vũ Cao Đàm déploie dans sa peinture sur soie un art d’une grande finesse et d’une remarquable sophistication. Comme le révèle cette œuvre, il représente les glaïeuls selon une vision singulière, profondément séduisante pour le regard, dépassant largement la simple description naturaliste. Pour modeler les pétales, L’artiste superpose délicatement de multiples couches de couleur sur la soie, conférant à l’ensemble une profondeur visuelle particulièrement subtile. Contrairement aux natures mortes florales de Lê Phổ, où les fleurs apparaissent souvent réunies dans un vase, les glaïeuls de Vũ Cao Đàm se dressent ici de manière autonome, presque comme le portrait même de la fleur. L’artiste en révèle les qualités essentielles : des tiges droites et élancées, semblables à des lames élégantes, mais dont la verticalité conserve une grâce infiniment délicate. Par sa maîtrise technique et sa sensibilité exceptionnelle à la beauté, Vũ Cao Đàm entraîne le spectateur au-delà du réel, vers un univers de rêve peuplé de réminiscences anciennes, paisibles et empreintes de nostalgie.

VŨ CAO ĐÀM (1908 - 2000)
"Sắc Xuân"
Mực và màu trên lụa
Ký tên ở góc dưới bên trái
60.5 x 46 cm

Nghệ thuật hội họa trên lụa của họa sĩ Vũ Cao Đàm sắc sảo và tinh vi. Như người xem có thể nhận thấy ở đây, ông miêu tả những bông lay-ơn với một vẻ đẹp khác biệt, quyến rũ thị giác, không chỉ dừng ở việc tả thực. Để tạo hình những cánh hoa, Họa sĩ đã chồng nhiều lớp màu trên nền lụa, làm cho tổng thể tác phẩm có chiều sâu đặc biệt. Khác với những tác phẩm tĩnh vật của Lê Phổ - hoa thường được cắm trong bình, hoa lay-ơn của Vũ Cao Đàm đứng độc lập, hiển thị như một tác phẩm chân dung của loài hoa. Ông đã đặc tả nét đẹp riêng của hoa - những cành hoa thẳng, vươn cao như thanh kiếm, nhưng vẫn vô cùng duyên dáng. Bằng kỹ thuật và khả năng vượt trội trong việc cảm thụ cái đẹp, Vũ Cao Đàm đưa chúng ta thoát khỏi hiện thực để chìm vào cõi mộng, những không gian xưa cũ, êm đềm và cổ kính.

Định giá : 120,000 EUR - 150,000 EUR
Xem
Lot: 31
Ⓗ LE PHO (1907 - 2001) "Nature morte aux Tulipes"

Ⓗ LE PHO (1907 - 2001)

"Nature morte aux Tulipes"

Technique mixte sur soie
Signée en bas à gauche
92 x 60 cm

Lê Phổ semble trouver dans le thème de la nature morte florale un terrain particulièrement en harmonie avec la délicatesse de la soie. Grâce à une sensibilité raffinée dans le traitement des lignes et des couleurs, l’artiste rassemble ici des émotions esthétiques intimement liées à la beauté du quotidien. Le choix des tonalités, le dialogue subtil entre lignes droites et courbes dans les feuillages, la présence des tulipes attirant naturellement le regard, ou encore les discrètes touches de bleu déposées sur la table composent ensemble un univers immédiatement reconnaissable : celui de Lê Phổ. Le vase de fleurs apparaît ainsi dans un coin paisible et silencieux, où la beauté naturelle et la finesse des formes semblent adoucir le monde et transformer l’espace de vie en un lieu de sérénité.

LÊ PHỔ (1907 - 2001)
"Tĩnh vật hoa Tulip"

Tổng hợp trên lụa, bồi trên bìa Ký tên ở góc dưới bên trái
92 x 60 cm

Đề tài tĩnh vật hoa với một phong thái trầm lặng dường như rất phù hợp khi được thể hiện trên chất liệu lụa. Bằng khả năng cảm nhận tinh tế về đường nét và màu sắc, họa sĩ Lê Phổ đã hội tụ trong tác phẩm những rung động thẩm mỹ gần gũi với cuộc sống. Lựa chọn của ông trên bảng màu, sự kết hợp giữa nét thẳng và nét cong ở cành lá, hoa tulip nổi bật thu hút ánh nhìn, ấn tượng nhẹ từ những đốm màu xanh trên mặt bàn… tất cả tổ hợp làm nên một tinh thần riêng biệt mang tên Lê Phổ. Bình hoa của ông hiện diện tại một góc nhỏ yên bình, nơi cái đẹp tự nhiên và tinh tế khiến cuộc sống trở nên êm dịu.

Định giá : 90,000 EUR - 120,000 EUR
Xem
Lot: 32
Ⓟ TRAN PHUC DUYEN (1923-1993) "Poissons rouges", 1950

Ⓟ TRAN PHUC DUYEN (1923-1993)

"Poissons rouges", 1950

Assiette en bois laqué polychrome, de forme circulaire, présentant en partie centrale un décor en laque or, brun et noir de deux poissons rouges dans les algues marines.
Signée et datée 1950 en bas à droite.
Diamètre : 27 cm
(Un éclat sur la bordure)

Provenance : Collection particulière française.

TRẦN PHÚC DUYÊN (1923–1993)
"Cá vàng", 1950

Đĩa gỗ sơn mài đa sắc hình tròn, phần trung tâm trang trí bằng sơn mài màu vàng, nâu và đen, thể hiện hai con cá vàng giữa những đám rong biển.
Ký tên và ghi niên đại 1950 ở góc dưới bên phải.
Đường kính: 27 cm
(Một vết sứt ở viền)

Nguồn gốc : Bộ sưu tập tư nhân Pháp.

Định giá : 1,500 EUR - 2,000 EUR
Xem
Lot: 33
Ⓟ TRAN PHUC DUYEN (1923-1993) "Biches", 1950

Ⓟ TRAN PHUC DUYEN (1923-1993)

"Biches", 1950

Assiette en bois laqué polychrome, de forme circulaire, présentant en partie centrale un décor en laque or, brun et noir de deux biches dans la nature.
Signée et daté 1950 en bas à droite.
Diamètre : 27,8 cm
(Légers sauts de laque en bordure)

Provenance : Collection particulière française.


TRẦN PHÚC DUYÊN (1923–1993)
"Hươu cái", 1950

Đĩa gỗ sơn mài đa sắc hình tròn, phần trung tâm trang trí bằng sơn mài màu vàng, nâu và đen, thể hiện hai con hươu cái trong khung cảnh thiên nhiên.
Ký tên và ghi niên đại 1950 ở góc dưới bên phải.
Đường kính: 27,8 cm
(Một vài vết bong sơn nhỏ ở viền)

Nguồn gốc : Bộ sưu tập tư nhân Pháp.

Định giá : 1,500 EUR - 2,000 EUR
Xem
Lot: 34
Ⓟ ƒ TRAN PHUC DUYEN (1923-1993) "Biches", 1951

Ⓟ ƒ TRAN PHUC DUYEN (1923-1993)

"Biches", 1951

Assiette en bois laqué noir, de forme circulaire, présentant en partie centrale un décor en laque or, brun et noir de deux biches dans la nature.
Signée et daté 1951 en bas à droite.
Portant au revers l'inscription à l'or "TRAN PHUC DUYEN, Artiste peintre - laqueur, Vietnam, Hanoi".
Diamètre : 28,7 cm


TRẦN PHÚC DUYÊN (1923–1993)
"Hươu cái", 1951

Đĩa gỗ sơn mài đen hình tròn, phần trung tâm trang trí bằng sơn mài màu vàng, nâu và đen, thể hiện hai con hươu cái trong khung cảnh thiên nhiên.
Ký tên và ghi niên đại 1951 ở góc dưới bên phải.
Mặt sau có dòng chữ mạ vàng: “TRAN PHUC DUYEN, họa sĩ – nghệ nhân sơn mài, Việt Nam, Hà Nội”.
Đường kính : 28,7 cm

Định giá : 4,000 EUR - 60,000 EUR
Xem
Lot: 35
Ⓟ TRAN PHUC DUYEN (1923-1993) "Vue du temple Ngoc Son sur le lac Hoan Kiem", 1952

Ⓟ TRAN PHUC DUYEN (1923-1993)

"Vue du temple Ngoc Son sur le lac Hoan Kiem", 1952

Panneau en laque polychrome
Signé et daté en bas à droite
45,5 x 36 cm

Provenance : Collection privée française

TRẦN PHÚC DUYÊN (1923–1993)
Quang cảnh đền Ngọc Sơn trên hồ Hoàn Kiếm, 1952

Tranh sơn mài đa sắc
Ký tên và ghi năm ở góc dưới bên phải
45,5 x 36 cm

Nguồn gốc : Bộ sưu tập tư nhân Pháp.

Định giá : 40,000 EUR - 50,000 EUR
Xem
Lot: 36
Ⓗ LE THY (1919-1961) "Parfum de rêve"

Ⓗ LE THY (1919-1961)

"Parfum de rêve"

Panneau en bois laqué
Signé en bas à droite
70.5 × 50.6 cm

"Parfum de rêve" est une évocation de la fragilité du beau, apparaissant fugitivement avant de se dissoudre dans l’espace. La fusion du parfum et du songe compose ici une atmosphère à la fois mystérieuse, irréelle et profondément envoûtante. Les deux figures féminines évoluent dans un univers empreint d’abstraction poétique, sans frontière véritable entre le temps, la réalité et l’imaginaire. À travers leurs costumes, Lê Thy restitue avec finesse la sensualité des étoffes précieuses — soieries et brocarts — dont les détails souples et chatoyants traduisent un raffinement typiquement associé à l’esthétique orientale. La figure du dragon apparaît de manière diffuse, se mêlant aux volutes d’encens qui s’élèvent dans la composition. Dragon et fumée semblent animés d’un même mouvement fluide, créant à la fois profondeur visuelle et sensation de sacré. Autour d’eux flottent des nuées suspendues, enveloppant la scène d’une atmosphère vaporeuse, semblable au souvenir lointain d’un âge révolu. Au cœur de cet univers onirique, l’artiste introduit pourtant des éléments du quotidien — deux livres, un éventail tenu à la main — qui apportent une présence familière et ouvrent de multiples résonances littéraires. Les deux jeunes femmes paraissent engagées dans une conversation intime, mais le regard du spectateur peine à les percevoir comme des figures pleinement réelles. Elles surgissent plutôt comme des apparitions issues de la mémoire, traces d’une beauté disparue mais toujours vivante dans l’imaginaire et l’ émotion

"Parfum de rêve" séduit non seulement par la délicatesse de sa technique de laque et par l’élégance décorative propre aux arts du Sud du Vietnam, mais également par sa capacité à créer un espace sensoriel où parfums, fumée, nuages et figures humaines se fondent dans un rêve profondément oriental.

LÊ THY (1919 - 1961)
"Hương mộng"
Sơn mài trên tấm gỗ
Ký tên ở góc dưới bên phải
70.5 x 50.6 cm

Tác phẩm “Hương mộng” là sự mong manh của cái đẹp vừa hiện ra trong khoảnh khắc rồi lại tan vào không gian. Sự hòa quyện giữa hương và mộng đã tạo nên không khí liêu trai, mơ hồ nhưng đầy cuốn hút. Hai nhân vật nữ xuất hiện trong không gian mang tính ước lệ, không có ranh giới thời gian, không có ranh giới giữa thực tại và
tâm tưởng. Trên trang phục của họ, Họa sĩ Lê Thy diễn tả tinh tế chất cảm của lụa là, gấm vóc với những chi tiết mềm mại, óng ánh, tạo nên cảm giác sang trọng và quý phái rất đặc trưng của mỹ cảm Á Đông. Hình tượng rồng hiện diện mờ ảo, hòa quyện cùng những làn khói hương trầm đang tỏa lên. Rồng và hương như cùng chuyển động trong một nhịp điệu, vừa tạo chiều sâu thị giác vừa mở ra cảm giác linh thiêng, huyền hoặc. Bao quanh không gian là những cụm mây lơ lửng, khiến toàn bộ khung cảnh trở nên bảng lảng như một hồi ức xa xăm của thời vàng son cũ.

Giữa thế giới mộng tưởng ấy, họa sĩ vẫn đặt vào những chi tiết đời thường như hai cuốn sách hay chiếc quạt cầm tay. Những vật thể nhỏ bé tạo nên cảm giác gần gũi và gợi mở nhiều liên tưởng văn chương thú vị. Hai cô gái dường như đang trong một cuộc hội ngộ tâm tình, nhưng ánh nhìn người xem lại không hoàn toàn cảm nhận họ như những nhân vật thực. Họ hiện ra như những bóng hình của ký ức, của vẻ đẹp đã đi qua nhưng vẫn còn lưu giữ trong trí tưởng tượng và cảm xúc con người. “Hương mộng” không chỉ gây ấn tượng bởi kỹ thuật sơn mài tinh tế hay vẻ đẹp trang trí đặc trưng của mỹ thuật miền Nam, mà còn bởi khả năng tạo nên không gian cảm xúc của hương, khói, mây và con người, trong một giấc mộng đậm chất phương Đông.

Định giá : 6,000 EUR - 9,000 EUR
Xem
Lot: 37
Ⓟ LE THY (1919-1961) "Vue du village"

Ⓟ LE THY (1919-1961)

"Vue du village"

Panneau en laque polychrome
Signé en bas à droite
61 x 122,5 cm


LÊ THY (1919–1961)
"Vue du village"

Tấm sơn mài đa sắc
Ký tên ở góc dưới bên phải
61 x 122,5 cm

Định giá : 8,000 EUR - 12,000 EUR
Xem
Lot: 38
Ⓟ VIETNAM, Ecole des Beaux-Arts de l'Indochine, XXe siècle Rare paravent à douze feuilles en laque de Coromandel

Ⓟ VIETNAM, Ecole des Beaux-Arts de l'Indochine, XXe siècle

Rare paravent à douze feuilles en laque de Coromandel

Présentant sur l'ensemble un décor ciselé et polychrome sur fond brun rouge. Orné sur une face d’une importante scène de palais animée de nombreuses figures féminines, le décor se déployant sur douze panneaux dans une architecture de pavillons, terrasses, escaliers et jardins. La composition encadrée de réserves ornées de fleurs, vases fleuris, fruits et objets de lettrés. Le revers présentant plusieurs couples d’oiseaux évoluant dans un paysage luxuriant continu s’étendant sur l’ensemble des douze panneaux. Faisans, grues, canards mandarins et oiseaux en vol apparaissent parmi des arbres fleuris, bambous, lotus et rochers percés. Une marque "MBIA" (Maison des Beaux-Arts de l'Indochine) gravée en rouge sur la partie inférieure de la composition.
Hauteur : 169 cm
Largeur (par feuille) : 35,5 cm

Provenance : Collection privée du nord de la France.

Ce paravent double-face fait parti du corpus des productions réalisées au sein des ateliers de l’Ecole des Beaux Arts d’Indochine, sous l’influence de l’artiste et professeur Nguyen Van Ban (1912-1999), spécialisé dans ce type de productions. Celles-ci sont très largement inspirées des paravents chinois de type Coromandel, fabriqués en Chine à partir du XVIIe siècle et devenus des modèles très populaires, en Chine comme dans le reste du monde. Ici, bien que les codes stylistiques des productions Coromandel soient respectées, les scènes chinoises sont réadaptées à l’histoire du Vietnam.


VIỆT NAM, Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, thế kỷ XX
Bình phong hiếm gồm mười hai tấm bằng sơn mài Coromandel

Trên toàn bộ bề mặt là họa tiết chạm khắc và sơn mài đa sắc trên nền nâu đỏ. Một mặt thể hiện cảnh cung đình lớn với nhiều nhân vật nữ, trải dài trên mười hai tấm trong một kiến trúc gồm các lầu, sân thượng, bậc thang và vườn. Bố cục được viền bởi các ô trang trí hoa, bình hoa, trái cây và đồ vật của giới nho sĩ.

Mặt sau thể hiện nhiều cặp chim trong một khung cảnh thiên nhiên phong phú, liên tục trải dài trên toàn bộ mười hai tấm: trĩ, hạc, vịt uyên ương và chim đang bay xuất hiện giữa cây hoa, tre, sen và đá cảnh.
Một dấu khắc “MBA” (Maison des Beaux-Arts de l’Indochine) màu đỏ được đặt ở phần dưới của bố cục.
Chiều cao: 169 cm
Chiều rộng (mỗi tấm): 35,5 cm

Nguồn gốc : Bộ sưu tập tư nhân miền Bắc nước Pháp.

Tấm bình phong hai mặt này thuộc nhóm sản phẩm được thực hiện trong các xưởng của Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, dưới ảnh hưởng của họa sĩ và giảng viên Nguyễn Văn Bản, người chuyên về loại hình này. Các tác phẩm lấy cảm hứng sâu sắc từ bình phong Coromandel của Trung Quốc, vốn được sản xuất từ thế kỷ XVII và trở nên rất phổ biến tại Trung Quốc cũng như trên thế giới. Tuy vẫn giữ các quy chuẩn tạo hình của dòng Coromandel, các cảnh Trung Hoa ở đây đã được điều chỉnh và tái diễn giải theo lịch sử và văn hóa Việt Nam.

Định giá : 15,000 EUR - 20,000 EUR
Xem
Lot: 39
Ⓗ MAI TRUNG THU (1906 - 1980) "Rêve de printemps", 1952

Ⓗ MAI TRUNG THU (1906 - 1980)

"Rêve de printemps", 1952

Encre et couleurs sur soie
Signée, cachetée et datée en bas à droite
30.5 × 20 cm

Mai Trung Thứ représente ici une ouverture circulaire inspirée de l’architecture traditionnelle des demeures aisées d’autrefois. Associée à un rideau décoratif, cette forme de fenêtre possédait à la fois une fonction ornementale et une dimension symbolique liée au feng shui, destinée à préserver l’harmonie et la prospérité du foyer. La jeune femme, vêtue d’un áo dài aux tonalités sobres et élégantes, s’appuie délicatement contre cette ouverture dans une posture empreinte de cette sérénité raffinée et presque aristocratique que Mai Trung Thứ affectionnait particulièrement dans la représentation de ses personnages féminins. Le spectateur ressent immédiatement la douceur paisible d’un intérieur vietnamien d’autrefois.

L’esprit de l’œuvre émane du visage rond et apaisé de la jeune femme, dont l’expression traduit un état intérieur calme et parfaitement serein. Les signes du printemps — les herbes verdoyantes et les fleurs discrètement épanouies — viennent doucement pénétrer l’univers sensible du personnage principal, transformant la scène en une vision poétique aux accents oniriques.

MAI TRUNG THỨ (1906 - 1980)
"Mộng Xuân", 1952

Mực và màu trên lụa
Ký tên, đóng triện và đề năm ở góc dưới bên phải
30.5 x 20 cm

Họa sĩ Mai Trung Thứ miêu tả ô cửa theo lối kiến trúc xưa ở những gia đình giàu có - cửa tròn cùng với rèm che vừa có tính trang trí, vừa có tính phong thủy ổn định vượng khí của chủ nhân. Cô gái mặc trên mình tà áo dài nhã nhặn, tựa mình vào ô cửa trong tư thế gọi là thư thái vương giả mà Mai Trung Thứ đã có những lần thể hiện cho nhân vật của mình. Người xem cảm nhận được không khí êm ả thanh bình của một không gian sống thời xưa. Tinh thần của tác phẩm toát lên từ khuôn mặt tròn trịa của cô gái, biểu hiện dòng tâm trí điềm tĩnh phẳng lặng. Dấu hiệu mùa xuân, mảng cỏ xanh và những bông hoa, nhẹ nhàng đi vào cảm nhận của nhân vật chính, giới thiệu tác phẩm như một cảnh mộng nên thơ.

Định giá : 70,000 EUR - 90,000 EUR
Xem
Lot: 40
Ⓗ LE PHO (1907 - 2001) "La promenade", 1956

Ⓗ LE PHO (1907 - 2001)

"La promenade", 1956

Huile sur soie marouflée sur panneau
Signée et datée en bas à gauche
41 x 27 cm

Lê Phổ entretient un lien profond avec l’esthétique impressionniste, particulièrement durant les années où il s’établit en France, berceau de l’Impressionnisme. Son approche de ce courant ne relève cependant pas d’une simple influence formelle : elle répond à une nécessité intérieure, lui permettant de concilier un langage pictural occidental avec une sensibilité profondément orientale. De cette rencontre naissent des œuvres d’une grande singularité.

Malgré son format réduit et sa composition verticale, l’œuvre parvient à suggérer un espace largement ouvert, animé par la présence de plusieurs figures. Au premier plan, une chaise tournée de dos introduit discrètement l’idée d’un coin de jardin où femmes et enfants se réunissent pour se reposer et converser. La scène semble se dérouler durant la saison chaude, sous un ciel lumineux, tandis que les femmes cherchent la fraîcheur à l’ombre des arbres et de la végétation. Chaque personnage paraît abandonné à la douceur de la nature environnante : depuis la démarche paisible de la femme portant un panier de fleurs et de fruits jusqu’à l’attitude vive et spontanée de l’enfant en
train de jouer, tous semblent habiter un moment de bonheur simple et serein au cœur de la vie quotidienne.

LÊ PHỔ (1907 - 2001)
"Dạo chơi trong vườn", 1956
Sơn dầu trên lụa, bồi trên bìa cứng
Ký tên và đề năm ở góc dưới bên trái
41 x 27 cm

Họa sĩ Lê Phổ tiếp xúc sâu và chịu ảnh hưởng từ chủ nghĩa Ấn tượng, đặc biệt ở khoảng thời gian ông định cư tại Pháp, cái nôi của hội họa Ấn tượng. Ông đến với hội họa Ấn tượng như một nhu cầu tự thân, dung hòa một trường phái nghệ thuật phương Tây với tâm hồn Á Đông, tạo nên những tác phẩm đáng chú ý. Với bố cục đứng và kích thước nhỏ, tác phẩm ở đây vẫn thành công gợi tả một không gian mở, trong đó là nhiều nhân vật. Họa sĩ để một chiếc ghế quay lưng ngay tiền cảnh ngụ ý về một góc vườn nơi những người phụ nữ và trẻ em quây quần, nghỉ ngơi và trò chuyện. Thời điểm trong tác phẩm đang là mùa nóng, khi bầu trời rực rỡ và những người phụ nữ dường như nép mình trong bóng mát của cây cối, vườn tược. Mỗi nhân vật trong tác phẩm đang thả mình thư giãn cùng thiên nhiên, từ bước chân thong thả của người phụ nữ mang chiếc rổ đựng hoa trái, đến dáng vẻ hoạt bát của em bé đang vui chơi, họ đang ở trong những giây phút hạnh phúc của cuộc sống ngày thường.

Định giá : 80,000 EUR - 120,000 EUR
Xem
Lot: 41
Ⓗ LE PHO (1907 - 2001) "Chrysanthèmes au jardin"

Ⓗ LE PHO (1907 - 2001)

"Chrysanthèmes au jardin"

Huile sur toile
Signée en bas à droite
34 × 55 cm

Lê Phổ représente ici des chrysanthèmes d’un jaune éclatant, semblables à une saison d’automne pleine de promesses. En choisissant cette fleur associée à la noblesse et à l’élégance, puis en la dépeignant dans une spontanéité parfaitement naturelle, l’artiste compose une vision débordante de beauté et de vitalité. Face à cette œuvre florale de Lê Phổ, le spectateur ressent la chaleur d’une lumière généreuse, la plénitude des formes arrondies et une sensation profonde de joie paisible. Une fois encore, le peintre séduit par son aptitude exceptionnelle à percevoir et à orchestrer les relations les plus subtiles entre les couleurs. L’ensemble de la composition rayonne d’une luminosité harmonieuse qui insuffle au regard une impression de sérénité, d’élan intérieur et de douceur heureuse.

LÊ PHỔ (1907 - 2001)
"Cúc trong vườn"

Sơn dầu trên vải
Ký tên ở góc dưới bên phải
34 x 55 cm

Họa sĩ Lê Phổ thể hiện những bông cúc vàng rực rỡ như mùa thu đầy hứa hẹn. Lựa chọn một loài hoa vương giả và khắc họa chúng trong trạng thái rất tự nhiên, Ông đã tạo ra một cảm quan tràn đầy của cái đẹp cùng sức sống. Đứng trước tác phẩm hoa cúc của Lê Phổ, người xem tiếp xúc với ánh nắng chan hòa, những hình dáng tròn đầy sung túc và niềm vui. Một lần nữa họa sĩ chinh phục được cảm tình của người yêu nghệ thuật bằng khả năng tiếp nhận và xử lý những tương quan tinh tế giữa các màu sắc. Tác phẩm hấp dẫn với một tổng quan tươi sáng, khiến trong lòng ta cảm thấy phấn chấn và yên ổn.

Định giá : 35,000 EUR - 50,000 EUR
Xem
Lot: 42
Ⓗ LE PHO (1907 - 2001) "Nature morte aux fleurs et aux fruits", vers 1940

Ⓗ LE PHO (1907 - 2001)

"Nature morte aux fleurs et aux fruits", vers 1940

Huile sur soie
Signée en bas à droite
45 x 32 cm

Lê Phổ figure parmi les quatre grands maîtres vietnamiens ayant connu une reconnaissance importante en France. Son œuvre se déploie à travers trois grandes périodes stylistiques. Cette nature morte florale à l’huile appartient à sa deuxième période, marquée par une synthèse subtile entre technique occidentale et sensibilité orientale. La palette choisie n’atteint pas encore l’éclat lumineux et foisonnant caractéristique de sa troisième période, mais elle s’éloigne déjà pleinement du cadre plus intimiste et traditionnel de ses débuts. La composition y gagne en liberté et en souplesse. Dans cette œuvre, Lê Phổ conserve cependant une retenue profondément asiatique dans son interprétation impressionniste du thème floral. L’ensemble du tableau est enveloppé d’une tonalité légèrement assourdie, animée par des nuances rougeoyantes. Derrière le vase de fleurs, le spectateur devine un espace silencieux et presque méditatif. Il semble que, durant ses premières années d’installation en France, le contact plus direct avec la peinture impressionniste ait nourri chez lui une source d’inspiration nouvelle. L’œuvre se distingue également par son support particulièrement rare : une peinture à l’huile exécutée sur soie marouflée sur bois, plutôt que sur toile comme c’est le cas pour la majorité de ses huiles.

LÊ PHỔ (1907 - 2001)
"Tĩnh vật hoa và quả", khoảng 1940

Sơn dầu trên lụa, bồi trên bìa
Ký tên ở góc dưới bên phải
45 x 32 cm

Họa sĩ Lê Phổ là một trong bốn danh họa của Việt Nam thành công trên đất Pháp. Những tác phẩm của ông trải dài qua ba thời kỳ. Tác phẩm sơn dầu với chủ đề tĩnh vật hoa và quả ở đây thuộc về thời kỳ thứ hai - thể hiện sự kết hợp giữa kỹ thuật châu Âu và tinh thần Á Đông. Bảng màu họa sĩ lựa chọn chưa có sự tươi sáng đến rực rỡ như thời kỳ thứ ba, nhưng đã hoàn toàn đi ra khỏi khuôn khổ quốc nội của thời kỳ đầu tiên, với một bố cục linh hoạt hơn. Ở đây ông đã bảo toàn một sự trầm tĩnh rất Á Đông khi triển khai đề tài tĩnh vật hoa theo phong cách ấn tượng. Toàn bộ tác phẩm được ôm trong một màu hơi trầm ánh lên những sắc đỏ. Người xem được gợi cho thấy một không gian tĩnh mịch phía sau bình hoa. Dường như trong những năm đầu định cư tại Pháp, sự tiếp xúc nhiều hơn với hội họa của trường phái Ấn tượng đã tạo cho ông nguồn cảm hứng mới. Tác phẩm càng đặc biệt hơn bởi chất liệu sơn dầu được vẽ trên lụa bồi trên gỗ thay vì trên toan như phần lớn các tác phẩm sơn dầu của ông.

Định giá : 35,000 EUR - 50,000 EUR
Xem
Lot: 43
Ⓗ LE PHO (1907 - 2001) "Nature morte aux Artichauts"

Ⓗ LE PHO (1907 - 2001)

"Nature morte aux Artichauts"

Gouache sur soie
Signée en bas à droite
27 x 45,7 cm

Provenance: Collection de M.Pierre Le Tan, Galerie des Modernes, Paris, 2014.

Lê Phổ réalise ici une œuvre qui se distingue naturellement parmi ses propres compositions de natures mortes, tout autant qu’au sein du genre lui-même. Bien qu’ appartenant encore à sa deuxième période de création, cette peinture possède déjà la luminosité et la fraîcheur sensibles qui caractériseront plus tard les œuvres de sa troisième période.

Dans cet instant où la beauté semble se laisser doucement porter par le temps, Lê Phổ saisit avec spontanéité une grâce libre et sans contrainte. À travers une subtile orchestration de nuances de bleu, il inscrit son sujet dans une composition ouverte en arc de cercle. Grâce au sens exceptionnel de l’harmonie chromatique qui lui est propre, le spectateur éprouve une sensation presque physique d’attraction, comme placé devant une surface d’eau mouvante, vibrante et fluide dans l’espace. Les artichauts constituent ici un élément particulièrement singulier. Lê Phổ leur accorde une place centrale dans le groupe de nature morte, tout en les représentant avec une grande simplicité naturelle. L’artiste semble insuffler une âme à chacun des objets les plus modestes ; rien ne paraît résister à sa capacité de transformer chaque forme en présence vivante et poétique.

LÊ PHỔ (1907 - 2001)
"Tĩnh vật với hoa Atiso"

Bột màu trên lụa
Ký tên ở góc dưới bên phải
27 x 45,7 cm

Xuất xứ: Bộ sưu tập của ông Pierre Lê Tân - con trai Họa sĩ, Galerie des Modernes, Paris, 2014.

Tác phẩm hiện tại là sự nổi bật tự thân khi đứng trong những tác phẩm tĩnh vật khác của họa sĩ Lê Phổ, và cũng là khác biệt nếu đứng trong những tác phẩm tĩnh vật nói chung. Vẫn thuộc về thời kỳ thứ hai, tác phẩm lại có được cảm quan tươi sáng mà ông sẽ dành cho những sáng tác của thời kỳ thứ ba. Trong một khoảnh khắc khi vẻ đẹp buông lơi cùng thời gian, họa sĩ Lê Phổ đã bắt được ngẫu hứng sự duyên dáng không gò bó. Ông dùng những sắc thái của màu xanh, chứa đựng chủ đề tĩnh vật trong bố cục một vòng cung mở. Từ khả năng thiên phú đặc biệt về hòa sắc của người nghệ sĩ, chúng ta trải nghiệm cảm giác bị lôi cuốn như đang đứng trước vẻ đẹp của nước, lay động và uyển chuyển trong không gian. Hoa atiso ở đây là điểm thú vị, được họa sĩ khắc họa với vị trí chủ đạo của nhóm tĩnh vật, trong hình dáng thật tự nhiên. Họa sĩ Lê Phổ đã thổi hồn vào từng tạo vật nhỏ bé, dường như không gì có thể làm khó được ông.

Định giá : 80,000 EUR - 120,000 EUR
Xem
Lot: 44
Ⓗ TRAN DONG LUONG (1925-1993) "Portrait de jeune fille vietnamienne", 1955

Ⓗ TRAN DONG LUONG (1925-1993)

"Portrait de jeune fille vietnamienne", 1955

Encre et couleur sur soie
Signée, datée et localisée en bas à droite
48.8 × 37.5 cm

Trần Đông Lương conduit ici le geste du pinceau avec une précision à la fois nette et délicate afin de traduire la beauté douce, simple et naturellement élégante de la femme vietnamienne. La composition équilibrée et l’harmonie des formes concentrent le regard sur le visage, la finesse des traits et l’expression méditative du personnage. Dépourvu d’éléments accessoires, le portrait tire toute sa force émotionnelle de la subtilité de l’exécution et du soin accordé à chaque détail.

Dans le contexte des années 1950, après le rétablissement de la paix dans le Nord du Vietnam, les états d’âme étaient souvent empreints de réflexion et de préoccupations intérieures. Cette dimension psychologique apparaît avec une particulière intensité dans ce portrait de jeune femme vietnamienne par Trần Đông Lương. L’œuvre compte d’ailleurs parmi les rares peintures consacrées au thème féminin durant cette période de création. Sur un fond sobre et raffiné, le visage et l’état d’esprit du modèle sont évoqués à travers des éléments emblématiques de la femme vietnamienne. Par le traitement du regard, des traits du visage et de la posture, le spectateur perçoit toute la dignité et le caractère de la femme vietnamienne, intimement liés à leur époque.

La douceur propre à la soie permet également à l’artiste d’exploiter pleinement les qualités poétiques et sensibles du médium. Le charme discret de l’œuvre se révèle dans chaque détail imprégné de l’âme vietnamienne : le foulard « mỏ quạ », le sac indigo, la tunique brune rustique ou encore le pantalon de soie noire.

Mais la dimension la plus saisissante demeure sans doute l’expression songeuse et mélancolique de la jeune femme. Dans le contexte historique de cette époque, cette intériorité peut être perçue comme le reflet des interrogations et des préoccupations collectives liées au destin du pays. À travers son langage plastique, Trần Đông Lương affirme avec force la rencontre entre identité nationale et conscience de son temps, conférant ainsi à l’œuvre toute sa profondeur et sa valeur.

TRẦN ĐÔNG LƯƠNG (1925 - 1993)
"Chân dung thiếu nữ Việt", 1955

Mực và màu trên lụa
Ký tên, đề ngày tháng năm và địa điểm ở góc dưới bên phải
48.8 x 37.5 cm

Họa sĩ Trần Đông Lương đã đưa đường đi của cây cọ một cách sắc gọn mà mềm mại để mô tả nét xinh đẹp, dịu dàng và dung dị của người con gái Việt. Bố cục cân đối, tạo hình hài hòa, điểm nhấn thị giác tập trung vào diện mạo, nét tinh tú và thần thái suy tư của nhân vật. Không có chi tiết phụ nhưng kỹ thuật tạo hình và sự tinh tế ở từng chi tiết đã khiến bức chân dung đem lại nhiều rung cảm sâu lắng.

Trong bối cảnh thập niên 50 sau hòa bình lập lại ở miền Bắc, tâm thế con người thường trong trạng thái mang nhiều suy ngẫm và trăn trở. Trong bức tranh vẽ chân dung thiếu nữ Việt của Trần Đông Lương, trạng thái tâm lý này được thể hiện rõ nét. Đây cũng là một trong số ít tác phẩm của ông về đề tài thiếu nữ giai đoạn này. Trên nền tranh nhã nhặn, diện mạo, tâm trạng của nhân vật được đặc tả bằng những chi tiết điển hình của người phụ nữ Việt. Qua đường nét phác tả gương mặt, ánh mắt, dáng ngồi…, người xem cảm nhận được khí chất của người phụ nữ Việt Nam, gắn với bối cảnh thời đại.

Sự mềm mại của lụa cũng giúp họa sĩ Trần Đông Lương khai thác tối đa ưu thế chất liệu, chất thơ và nét duyên được thể hiện đầy chủ ý ở từng chi tiết thấm đẫm hồn Việt như chiếc khăn mỏ quạ, túi chàm, tấm áo nâu xồng và chiếc quần lụa đen…

Nhưng tầng nghĩa thu hút nhiều hơn cả là nét suy tư, tâm trạng đượm buồn của cô gái. Ttrong bối cảnh lịch sử giai đoạn này, đó có lẽ là suy tư, trăn trở nói chung về thời cuộc. Tính dân tộc và thời đại là thông điệp được hiển thị đậm nét qua ngôn ngữ tạo hình của Trần Đông Lương, góp phần nâng tầm giá trị của tác phẩm.

Định giá : 20,000 EUR - 25,000 EUR
Xem
Lot: 45
Ⓗ MAI TRUNG THU (1906 - 1980) "Confidence intime", 1960

Ⓗ MAI TRUNG THU (1906 - 1980)

"Confidence intime", 1960

Encre et couleurs sur soie
Signée, cachetée et datée en bas à gauche
27 × 19 cm

Mai Trung Thứ choisit souvent le petit format sur soie afin de rendre son art plus intime et plus accessible au regard. Même dans ces œuvres de dimensions modestes, il parvient à saisir des instants fugitifs où la beauté profondément vietnamienne se transforme en une impression durable pour l’amateur d’art.

L’œuvre présentée ici représente une jeune femme vietnamienne dans un état mêlant abandon et méditation intérieure. La figure occupe presque entièrement l’espace de la composition et captive immédiatement le regard par la fluidité de sa longue chevelure noire. L’éventail vert et la tunique aux tonalités bleutées introduisent des accords chromatiques doux et apaisants, diffusant une sensation de calme et de sérénité.

L’expression du visage et le langage silencieux du corps permettent au spectateur de percevoir tout le contexte émotionnel de cet instant suspendu. L’artiste traite ainsi son personnage comme un fragment naturel prélevé dans une histoire plus vaste, laissant à chacun la liberté d’imaginer le récit et l’atmosphère qui entourent cette scène délicate.

MAI TRUNG THỨ (1906 - 1980)
"Tự tình", 1960

Mực và màu trên lụa
Ký tên, đóng triện và đề năm ở góc dưới bên trái
27 x 19 cm

Những tác phẩm lụa trên khuôn khổ nhỏ là một lựa chọn để họa sĩ Mai Trung Thứ có thể đưa nghệ thuật của ông đến gần hơn với nhiều người xem hơn. Trong những tác phẩm này, ông vẫn khắc họa những khoảnh khắc thoáng qua, nơi vẻ đẹp mang bản sắc Việt đọng lại thành những dấu ấn khó phai đối với người yêu nghệ thuật.

Tác phẩm hiện tại khắc họa một thiếu nữ Việt trong trạng thái vừa thả lỏng vừa trầm tư. Hình ảnh thiếu nữ chiếm trọn không gian trong tranh và gây ấn tượng với mái tóc đen buông dài. Chiếc quạt xanh, chiếc áo xanh tạo thành những mảng màu dịu mát, khiến tâm hồn ta trở nên thư thái. Thần sắc và ngôn ngữ cơ thể của nhân vật gợi cho người xem cảm nhận được cả không gian tình huống của khoảnh khắc này. Người nghệ sĩ đã mô tả nhân vật như một lát cắt tự nhiên trong câu chuyện của mình, và người yêu nghệ thuật có thể tưởng tượng một bối cảnh cho câu chuyện ấy.

Định giá : 50,000 EUR - 80,000 EUR
Xem
Lot: 46
Ⓟ TRAN PHUC DUYEN (1923-1993) "Femmes aux ao dai"

Ⓟ TRAN PHUC DUYEN (1923-1993)

"Femmes aux ao dai"

Gouache sur papier cartonné
Signée et cachet en bas à droite
35,9 x 25,6 cm

Provenance : Achetée en 1961 par l’actuel propriétaire à l’exposition « TRAN PHUC DUYEN - LAQUES ET PEINTURES SUR SOIE » à l’Hôtel Plaza à Nice. Il s’agissait pour l’artiste de sa seconde exposition personnelle, et première en France.

TRẦN PHÚC DUYÊN (1923–1993)
"Những người phụ nữ áo dài"

tranh màu bột trên bìa cứng
Ký tên và đóng dấu ở góc dưới bên phải
35,9 x 25,6 cm

Nguồn gốc : Được chủ sở hữu hiện tại mua năm 1961 tại triển lãm “TRẦN PHÚC DUYÊN – SƠN MÀI VÀ TRANH LỤA” tại Hôtel Plaza, Nice. Đây là triển lãm cá nhân thứ hai của nghệ sĩ, đồng thời là lần đầu tiên tại Pháp.

Định giá : 15,000 EUR - 20,000 EUR
Xem
Lot: 47
Ⓟ TRAN PHUC DUYEN (1923-1993) "Dans la rizière"

Ⓟ TRAN PHUC DUYEN (1923-1993)

"Dans la rizière"

Panneau en bois laqué polychrome
Signé et cachet de l'artiste en bas à droite
Avec cadre en bois laqué
50 x 29,5 cm
(Petites usures)

Né à Hanoi, Tran Phuc Duyen devient élève à École des Beaux-Arts de l’Indochine, qu’il intègre en 1942 et dont il sort diplômé en 1946 avec la laque comme spécialité. Fort de cette formation, l’artiste s’impose rapidement comme l’un des maîtres laqueurs les plus reconnus de sa génération, dépeignant des vues idéalisées de la campagne de son Vietnam natal, qu’il quittera pourtant pour la France à partir de 1954, alors qu’il est encore dans sa trentaine. Il poursuit alors ses études à l’École des Beaux-Arts de Paris dans l’atelier de Jean Souverbie (1891-1981), avant de s’établir par la suite en Suisse.

Ses productions des années 1950, dites de la « période vietnamienne », à laquelle appartient notre présente œuvre, témoignent d’une phase particulièrement prolifique dans le parcours de l’artiste. Elles se caractérisent par des compositions en laque jouant avec virtuosité sur les contrastes de fonds rouges ou bruns, animés de paysages luxuriants où se déploient toutes les possibilités offertes par ce médium. Se développant sous forme de paravents, panneaux décoratifs, meubles ou compositions murales, son art n’a cessé d’explorer les ressources esthétiques de la laque, qu’il contribua à élever au rang de véritable art moderne.

Dans notre présent panneau, Tran Phuc Duyen dépeint avec délicatesse la beauté simple du monde rural. En utilisant un cadrage en légère surplongée, presque photographique, l’artiste semble saisir un instant suspendu, un moment de répit entre la cueillette du riz. Les deux figures paysannes se détachent sur un vaste fond mordoré où l’eau de la rizière et le ciel semblent se confondre en une seule et même matière lumineuse, effet rendu possible grâce aux effets de matière de la laque. Les subtils jeux de reflets dans l’eau, associés aux tonalités dorées et brunes de la laque, confèrent à l’ensemble une atmosphère contemplative, caractéristique des œuvres vietnamiennes les plus abouties de l’artiste.

TRẦN PHÚC DUYÊN (1923–1993)
"Trên cánh đồng lúa"

Tấm sơn mài đa sắc trên gỗ
Ký tên và đóng dấu của nghệ sĩ ở góc dưới bên phải
Có khung gỗ sơn mài
50 x 29,5 cm
(Mài mòn nhẹ)

Sinh tại Hà Nội, Trần Phúc Duyên trở thành học viên của Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, nơi ông nhập học năm 1942 và tốt nghiệp năm 1946 với chuyên ngành sơn mài. Nhờ nền đào tạo này, ông nhanh chóng khẳng định vị thế là một trong những bậc thầy sơn mài nổi bật của thế hệ mình, thường khắc họa những khung cảnh lý tưởng hóa của làng quê Việt Nam. Tuy nhiên, ông rời Việt Nam sang Pháp từ năm 1954 khi còn rất trẻ, sau đó tiếp tục học tại École des Beaux-Arts de Paris trong xưởng của Jean Souverbie (1891–1981), trước khi định cư tại Thụy Sĩ.

Các sáng tác thập niên 1950, được gọi là “giai đoạn Việt Nam”, mà tác phẩm này thuộc về, đánh dấu một thời kỳ sáng tạo đặc biệt phong phú trong sự nghiệp của ông. Những tác phẩm sơn mài giai đoạn này nổi bật với các bố cục khai thác tương phản giữa nền đỏ hoặc nâu, cùng những phong cảnh trù phú cho phép khai thác tối đa khả năng biểu đạt của chất liệu sơn mài. Dưới dạng bình phong, tấm trang trí, nội thất hay bố cục treo tường, nghệ thuật của ông không ngừng mở rộng khả năng thẩm mỹ của sơn mài, góp phần đưa chất liệu này lên tầm một loại hình nghệ thuật hiện đại.

Trong tấm sơn mài này, Trần Phúc Duyên khắc họa vẻ đẹp mộc mạc của đời sống nông thôn. Với góc nhìn hơi từ trên cao, gần như mang tính nhiếp ảnh, ông ghi lại một khoảnh khắc tĩnh lặng giữa công việc gặt hái. Hai nhân vật nông dân nổi bật trên nền vàng ánh kim, nơi mặt nước ruộng lúa và bầu trời dường như hòa làm một trong cùng một chất liệu ánh sáng, hiệu ứng được tạo nên nhờ kỹ thuật sơn mài. Những phản chiếu tinh tế trên mặt nước kết hợp với sắc vàng và nâu của sơn mài tạo nên bầu không khí chiêm nghiệm, đặc trưng cho những tác phẩm Việt Nam tiêu biểu nhất của ông.

Định giá : 20,000 EUR - 30,000 EUR
Xem
Lot: 48
Ⓟ TRAN VAN HA (1911-1974) "Jeune bouvier dans les rizières"

Ⓟ TRAN VAN HA (1911-1974)

"Jeune bouvier dans les rizières"

Panneau en bois laqué polychrome
Signé en bas à gauche
80 x 120 cm

Provenance : Collection privée de la région parisienne.


TRẦN VĂN HÀ (1911–1974)
"Chú mục đồng trẻ trên cánh đồng lúa"

Tấm sơn mài đa sắc trên gỗ
Ký tên ở góc dưới bên trái
80 x 120 cm

Nguồn gốc : Bộ sưu tập tư nhân khu vực Paris

Định giá : 12,000 EUR - 15,000 EUR
Xem
Lot: 49
Ⓟ TRAN DINH THO (1919-2011) "Paysage du Delta", 1963

Ⓟ TRAN DINH THO (1919-2011)

"Paysage du Delta", 1963

Panneau en laque polychrome
Signé et daté en bas à droite
Avec encadrement en bois
80 x 59,5 cm
(Usure au coin supérieur droit, quelques rayures)

Provenance : Collection privée parisienne

Comparatif : Pour un panneau au thème similaire mais de taille plus réduite, voir vente Sotheby's du 9 novembre 2021 à Paris, lot n°3.

TRẦN ĐÌNH THỌ (1919–2011)
"Phong cảnh đồng bằng", 1963

Tấm sơn mài đa sắc
Ký tên và ghi niên đại ở góc dưới bên phải
Có khung gỗ
80 x 59,5 cm
(Mòn ở góc trên bên phải, một vài vết xước)

Nguồn gốc : Bộ sưu tập tư nhân Paris

So sánh : Đối với một tấm có chủ đề tương tự nhưng kích thước nhỏ hơn, xem phiên đấu giá Sotheby’s ngày 9 tháng 11 năm 2021 tại Paris, lô số 3.

Định giá : 20,000 EUR - 30,000 EUR
Xem
Lot: 50
Ⓟ LEBADANG (1921-2015) "Le cavalier rouge", 1967

Ⓟ LEBADANG (1921-2015)

"Le cavalier rouge", 1967

Huile sur toile
Signée en bas à gauche
Contresignée, dédicacée et datée au revers
65 x 50 cm

Provenance : Collection particulière française.

LÊ BÁ ĐẢNG (1921–2015)
"Kỵ sĩ đỏ", 1967
Tranh sơn dầu trên vải bố
Ký tên ở góc dưới bên trái.
Có chữ ký xác nhận, đề tặng và ghi niên đại ở mặt sau.
65 x 50 cm

Nguồn gốc : Bộ sưu tập tư nhân Pháp.

Định giá : 15,000 EUR - 20,000 EUR
Xem
Lot: 51
Ⓗ BUI XUAN PHAI (1920-1988) "Portrait de Ha Tuong", 1968

Ⓗ BUI XUAN PHAI (1920-1988)

"Portrait de Ha Tuong", 1968

Huile sur toile
Signée en bas à droite
40 × 28 cm

Le lot est accompagné d’une attestation de M. Hà Tường, photographe et proche ami de l’artiste.

Provenance : Transmission directe de la famille de M. Hà Tường au propriétaire actuel.

Bùi Xuân Phái n’a réalisé que peu de portraits de ses amis. Il ne représenta qu’un cercle restreint de proches, donnant naissance à des portraits d’une grande justesse, révélant avec finesse la personnalité singulière de chacun. Hà Tường figure parmi ces rares élus.

Souvent évoqué comme un artiste aux multiples talents, à la personnalité affirmée et entouré de nombreuses anecdotes, Hà Tường immortalisa à travers son objectif nombre de figures majeures du monde artistique et littéraire vietnamien. Cette force de caractère et cette présence singulière trouvent ici une expression particulièrement vivante et habitée dans le portrait que lui consacre Bùi Xuân Phái.

Le maître traduit également l’affection sincère et la simplicité de leur relation en privilégiant une écriture plastique fondée sur des traits accentués plutôt qu’une approche strictement réaliste. Le chapeau emblématique, les lunettes épaisses, les sourcils marqués, la cigarette inclinée au coin des lèvres, ou encore l’allure vestimentaire au caractère affirmé : chaque détail du portrait semble avoir été soigneusement pensé et chargé d’intention.

Par une palette volontairement sobre, une harmonie chromatique retenue et un trait d’une grande économie, Bùi Xuân Phái parvient à restituer avec force l’identité d’un artiste à la personnalité profondément singulière. À travers une construction libre et des lignes d’une remarquable spontanéité, le peintre saisit les détails les plus éloquents, ceux qui révèlent avec le plus d’acuité le caractère propre de Hà Tường. Cette œuvre témoigne également de la profonde compréhension mutuelle et de l’amitié sincère unissant les deux artistes.

BÙI XUÂN PHÁI (1920 - 1988)
"Chân dung Hà Tường", 1968

Sơn dầu trên vải
Ký tên ở góc dưới bên phải
40 x 28 cm

Nguồn gốc: Chuyển nhượng trực tiếp từ gia đình ông Hà Tường đến người sở hữu hiện nay, đi kèm xác nhận từ ông Hà Tường - Nhiếp ảnh gia, bạn thân của họa sĩ.

Họa sĩ Bùi Xuân Phái không có nhiều tác phẩm vẽ chân dung bạn bè. Ông chỉ vẽ một số người bạn thân, hầu hết là những chân dung đẹp, mô tả cá tính nổi bật của từng nhân vật. Hà Tường là một trong số ít đó.

Thường được nhắc đến là một nghệ sĩ đa tài, cá tính và gắn với nhiều giai thoại, ống kính tài hoa của Hà Tường đã ghi lại hình ảnh nhiều văn nghệ sĩ tên tuổi. Phẩm chất và tính cách này của ông đã được thể hiện sinh động và có hồn trong bức chân dung của Bùi Xuân Phái.

Danh họa cũng thể hiện tình cảm chân thành, mộc mạc của mình khi khắc họa tính cách người bạn bằng những nét vẽ tạo điểm nhấn hơn là lối tả thực. Chiếc mũ quen
thuộc, cặp kính dầy, lông mày rậm, điếu thuốc lá ngậm lệch trên khóe miệng, nét cá tính thể hiện trên trang phục…, từng chi tiết trong bức chân dung dường như đều mang chủ ý.

Họa sĩ Bùi Xuân Phái sử dụng bảng màu, hòa sắc và nét bút rất kiệm để chân dung Hà Tường hiện lên với đầy đủ nhận diện của một nghệ sĩ có cá tính độc đáo. Tạo hình và những đường nét phóng khoáng, danh họa ghi lại những chi tiết đắt giá bộc lộ rõ nhất tính cách riêng có của Hà Tường. Điều này cũng khắc họa sự thấu hiểu và tình cảm thân thiết giữa hai nghệ sĩ.

Định giá : 12,000 EUR - 15,000 EUR
Xem
Lot: 52
Ⓟ LE THY (1919-1961) "Le Cheval Blanc"

Ⓟ LE THY (1919-1961)

"Le Cheval Blanc"

Panneau en laque polychrome
Signé et cachet en bas à droite
98,5 x 62,5 cm

Né en 1919, Lê Thy appartient à cette génération d’artistes formés à École des Beaux-Arts de l’Indochine, où l’enseignement dispensé permit aux artistes vietnamiens de découvrir les grands courants européens de la fin du XIXe siècle, notamment l’œuvre de Paul Gauguin, dont l’influence se retrouve dans plusieurs compositions réalisées par les maîtres laqueurs de cette période.

Notre présent panneau reprend ainsi la composition "Le Cheval Blanc", célèbre toile peinte par Gauguin en 1898 et aujourd’hui conservée au Musée d'Orsay (inv. RF 2616). Réalisée durant le second séjour tahitien du peintre français, cette œuvre propose une vision imaginaire et synthétique d’un paysage polynésien : un cheval blanc, teinté des verts de la végétation, boit dans un ruisseau tandis que deux cavalières nues s’éloignent dans un décor luxuriant rythmé par les branches torsadées d’un bourao et une végétation exotique.

Dans cette adaptation en laque, Lê Thy transpose avec habileté l’univers décoratif de Gauguin dans le langage propre de la laque vietnamienne. Les aplats colorés, les contours simplifiés et les harmonies de verts profonds, de noirs et de tonalités mordorées trouvent dans ce médium une intensité particulière. Les silhouettes féminines et les chevaux se détachent dans un espace volontairement fermé et sans profondeur, tandis que les ramifications de l’arbre deviennent un élément graphique structurant la composition. Cette œuvre témoigne ainsi de la manière dont les artistes vietnamiens du XXe siècle surent assimiler les influences occidentales tout en les réinterprétant à travers les techniques et la sensibilité propres à l’art de la laque.


LÊ THY (1919–1961)
"Con ngựa trắng"

Tấm sơn mài đa sắc
Ký tên và đóng dấu ở góc dưới bên phải
98,5 x 62,5 cm

Sinh năm 1919, Lê Thy thuộc thế hệ nghệ sĩ được đào tạo tại Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, nơi chương trình giảng dạy giúp các họa sĩ Việt Nam tiếp cận những trào lưu lớn của châu Âu cuối thế kỷ XIX, đặc biệt là tác phẩm của Paul Gauguin, ảnh hưởng có thể thấy trong nhiều sáng tác sơn mài giai đoạn này.

Tác phẩm hiện tại tái hiện bố cục "Le Cheval Blanc", bức tranh nổi tiếng do Gauguin vẽ năm 1898 và hiện được lưu giữ tại Musée d’Orsay (số kiểm kê RF 2616). Được thực hiện trong chuyến lưu trú thứ hai tại Tahiti, tác phẩm gốc mang một tầm nhìn mang tính tưởng tượng và tổng hợp về cảnh quan Polynesia: một con ngựa trắng, ánh lên sắc xanh của thảm thực vật, đang uống nước bên suối, trong khi hai nữ kỵ sĩ trần trụi rời đi trong một khung cảnh rậm rạp, được nhấn bởi cành cây uốn lượn và thảm thực vật nhiệt đới.

Trong phiên bản sơn mài này, Lê Thy khéo léo chuyển thể thế giới tạo hình của Gauguin sang ngôn ngữ đặc trưng của sơn mài Việt Nam. Các mảng màu phẳng, đường viền giản lược và sự hòa phối giữa xanh sâu, đen và tông vàng ánh kim tạo nên một hiệu ứng thị giác mạnh mẽ. Các hình nhân và con ngựa nổi bật trong không gian phẳng, ít chiều sâu, trong khi cành cây trở thành yếu tố đồ họa chính của bố cục. Tác phẩm cho thấy cách các nghệ sĩ Việt Nam thế kỷ XX tiếp thu ảnh hưởng phương Tây và tái diễn giải chúng qua chất liệu và thẩm mỹ sơn mài truyền thống.

Định giá : 60,000 EUR - 80,000 EUR
Xem
Lot: 53
Ⓗ DUONG BICH LIEN (1924 - 1988) "Portrait de Mlle Linh Cầm"

Ⓗ DUONG BICH LIEN (1924 - 1988)

"Portrait de Mlle Linh Cầm"

Huile sur toile
Signée en bas à droite
60 × 45 cm

L’œuvre est reproduite dans l’ouvrage « Dương Bích Liên », publié par les éditions NXB Mỹ Thuật en 2003, p. 90.

Dương Bích Liên nourrit tout au long de sa carrière une prédilection particulière pour la figure féminine. Dans la diversité de son œuvre, le portrait de jeune femme constitue non seulement un sujet privilégié, mais également un espace où il exprime les émotions les plus subtiles que lui inspire la beauté humaine. Réalisé en 1982, ce portrait représente Mademoiselle Linh Cầm, une jeune Hanoïenne réputée pour sa beauté, alors âgée de vingt-six ans et résidant dans la rue Hàng Chiếu à Hanoï.

Après son achèvement, l’œuvre fut acquise par un collectionneur étranger avant de passer successivement entre plusieurs collections hors du Vietnam. De nombreuses années plus tard, elle fut rapatriée des États-Unis par un collectionneur vietnamien. Les retrouvailles entre la femme et le portrait de sa propre jeunesse, plus de quarante ans après sa création, constituèrent un moment particulièrement émouvant.

Qu’il travaille à l’huile ou au pastel, Dương Bích Liên se distingue par une touche délicate et retenue ainsi que par une palette aux tonalités pastel d’une grande élégance. Dans cette œuvre, il adopte une écriture presque murmurée pour restituer toute la douceur de la jeunesse de Linh Cầm. Les nuances subtiles, les transitions raffinées et le trait sensible donnent naissance à l’image d’une jeune femme incarnant la grâce et la distinction traditionnellement associées aux Hanoïennes. Mais derrière cette douceur apparaît également un regard déterminé, une expression calme et assurée, renforcée par la coiffure en queue-de-cheval qui confère au personnage une personnalité affirmée. La rencontre entre la délicatesse féminine et une force intérieure discrète donne à cette figure une présence qui dépasse la simple beauté physique pour révéler un véritable caractère.

Aujourd’hui, bien au-delà de l’image d’une jeune femme hanoïenne du début des années 1980, l’œuvre rappelle le rôle essentiel du peintre dans la préservation de la mémoire humaine. Si la jeunesse s’efface inévitablement avec le temps, l’art possède le pouvoir de lui offrir une forme de permanence. Grâce au regard de Dương Bích Liên, cette beauté demeure vivante et continue de traverser les générations.

DƯƠNG BÍCH LIÊN (1924 - 1988)
"Chân dung cô Linh Cầm"
Sơn dầu trên vải
Ký tên ở góc dưới bên phải
60 x 45 cm

Tác phẩm được in trong sách: "Dương Bích Liên" của NXB Mỹ Thuật (2003), trang 90.

Dương Bích Liên là một họa sĩ đặc biệt yêu thích vẽ thiếu nữ. Trong thế giới hội họa đa dạng của ông, ngoài việc khắc họa chân dung những thiếu nữ xinh đẹp, cá tính còn là nơi ông gửi gắm những rung động tinh tế nhất về vẻ đẹp con người trong cảm xúc của mình. Bức chân dung này được Dương Bích Liên sáng tác năm 1982, khắc họa cô Linh Cầm, một thiếu nữ Hà Thành nổi tiếng xinh đẹp, khi ấy vừa tròn 26 tuổi và sinh sống tại phố Hàng Chiếu, Hà Nội.

Sau khi hoàn thành, tác phẩm được một nhà sưu tập nước ngoài sở hữu, rồi tiếp tục lưu lạc qua nhiều bộ sưu tập khác nhau tại nước ngoài. Nhiều năm sau, tranh được một nhà sưu tập Việt Nam đưa trở về từ Mỹ. Cuộc hội ngộ giữa người phụ nữ năm nào và chân dung tuổi trẻ của chính mình sau hơn bốn thập kỷ đã trở thành một khoảnh khắc đầy xúc động.

Dù vẽ với chất liệu sơn dầu hay phấn màu thì bút pháp mềm mại, tiết chế cùng bảng màu pastel thanh nhã vẫn là đặc trưng bút pháp hội họa của Dương Bích Liên. Trong tác phẩm này, ông lựa chọn cách diễn tả nhẹ nhàng, gần như thì thầm để tái hiện trọn vẹn vẻ thanh xuân dịu mềm của Linh Cầm. Những sắc màu dịu, những chuyển độ tinh tế và nét vẽ giàu cảm xúc đã làm hiện lên một thiếu nữ mang vẻ đẹp thanh tú, nền nã của người con gái Hà Nội. Nhưng ẩn sau vẻ dịu dàng ấy là ánh nhìn cương nghị, thần thái điềm đạm với cột tóc đuôi gà cá tính. Sự hòa quyện giữa nét mềm mại nữ tính và sự mạnh mẽ toát lên khiến thiếu nữ vừa đẹp ở dung mạo, vừa toát lên khí chất. Sau rất nhiều năm tháng, người xem không chỉ bắt gặp hình ảnh của một thiếu nữ Hà Nội đầu thập niên 1980, mà còn cảm nhận được sự quan trọng của họa sĩ trong việc lưu giữ ký ức con người. Vẻ đẹp thanh xuân sẽ phai mờ theo năm tháng, nhưng khi đi vào nghệ thuật, vẻ đẹp ấy sẽ trường tồn với thời gian.

Định giá : 22,000 EUR - 25,000 EUR
Xem
Lot: 54
Ⓗ TRAN VAN THO (1917-2004) "Jeune fille aux cheveux noirs"

Ⓗ TRAN VAN THO (1917-2004)

"Jeune fille aux cheveux noirs"

Encre et couleurs sur soie
Signée et cachetée en bas à gauche
53 x 41 cm

Trần Văn Thọ se consacra principalement à la peinture sur soie, également appelée « thủy thái họa ». Avant de s’installer en France, il enseigna cette spécialité à l’École nationale supérieure des Beaux-Arts de Saïgon. Son œuvre révèle une grande maîtrise technique, où chaque trait est travaillé avec soin tout en conservant une impression d’ensemble légère, fluide et aérienne — qualités que cette composition de nu illustre parfaitement. Le charme de la jeune femme des montagnes est accentué par sa longue chevelure noire, traitée avec une attention particulière. Les mèches sombres, abondantes et souples, descendent jusqu’au sol en de larges mouvements ondoyants, devenant un élément essentiel de la composition. L’artiste enveloppe volontairement le décor d’une atmosphère vaporeuse et presque irréelle. Le spectateur est ainsi naturellement conduit vers un univers de légendes et de récits merveilleux, où la figure féminine apparaît comme une présence onirique, née de la quintessence même de la nature et des souffles du ciel et de la terre.

TRẦN VĂN THỌ (1917 - 2004)
"Thiếu nữ tóc huyền"

Mực và màu trên lụa
Ký tên và đóng triện ở góc dưới bên trái
53 x 41 cm

Trần Văn Thọ là họa sĩ chuyên về tranh lụa hay “thủy thái họa”. Ông đã có thời gian giảng dạy chuyên khoa tranh lụa tại Trường Quốc gia Cao đẳng Mỹ thuật Sài Gòn trước khi sang định cư ở Pháp. Những tác phẩm của họa sĩ Trần Văn Thọ cho thấy quá trình xử lý công phu trên từng nét họa, trong tổng thể thoáng, linh hoạt và bay bổng, mà tác phẩm nude ở đây có thể làm một ví dụ. Nét duyên của cô sơn nữ được nhấn mạnh bởi mái tóc đen dài, những nét đặc tả nổi bật, xõa lượn xuống cả mặt đất. Họa sĩ dụng ý miêu tả khung cảnh xung quanh với chất bồng lai sương khói. Người yêu nghệ thuật hẳn sẽ cảm nhận và liên tưởng khung cảnh trong tác phẩm với những câu chuyện thần tiên, hình ảnh nhân vật mang vẻ đẹp mơ màng như tụ lại bởi tinh túy của đất trời.

Định giá : 3,000 EUR - 5,000 EUR
Xem
Lot: 55
Ⓟ ƒ TRAN VAN THO (1917-2004) "Sampans dans la Baie de Ha Long"

Ⓟ ƒ TRAN VAN THO (1917-2004)

"Sampans dans la Baie de Ha Long"

Encre et couleurs sur soie
Signé et cachet en bas à droite
Encadrée sous verre
26 x 29 cm


TRẦN VĂN THỌ (1917–2004)
"Thuyền tam bản trong vịnh Hạ Long"
Mực và màu trên lụa
Ký tên và đóng dấu ở góc dưới bên phải
Đóng khung dưới kính
26 x 29 cm

Định giá : 1,000 EUR - 1,500 EUR
Xem
Lot: 56
Ⓟ NGUYEN HUYEN (1915-1984) "Les lotus blancs"

Ⓟ NGUYEN HUYEN (1915-1984)

"Les lotus blancs"

Panneau en laque polychrome
Signé en bas à gauche
30 x 22 cm

Provenance : Collection privée, Sud de la France.


NGUYỄN HUYỀN (1915–1984)
"Những đóa sen trắng"

Tấm sơn mài đa sắc
Ký tên ở góc dưới bên trái
30 x 22 cm

Nguồn gốc : Bộ sưu tập tư nhân, miền Nam nước Pháp.

Định giá : 2,000 EUR - 3,000 EUR
Xem
Lot: 57
Ⓟ TU DUYEN (1915-2012) "Femme devant la porte du temple"

Ⓟ TU DUYEN (1915-2012)

"Femme devant la porte du temple"

Encre et couleurs sur soie
Signé et cachet en bas à droite
Encadrée sous verre
67 x 38,5 cm

Provenance : Collection particulière française. Issu du mobilier d’une maison située sur l’Île d’Oléron, acquise par l’actuel propriétaire.

TỪ DUYÊN (1915–2012)
"Người phụ nữ trước cổng đền"

Mực và màu trên lụa
Ký tên và đóng dấu ở góc dưới bên phải
Đóng khung dưới kính
67 x 38,5 cm

Nguồn gốc : Bộ sưu tập tư nhân Pháp. Xuất phát từ nội thất của một ngôi nhà nằm trên đảo Oléron, được chủ sở hữu hiện tại mua lại.

Hauteur: 67.0 cm Largeur: 38.5 cm
Định giá : 3,000 EUR - 4,000 EUR
Xem
Lot: 58
Ⓗ LUONG XUAN NHI (1914 - 2006) "Jeunes filles de Hanoï partant pour la Résistance"

Ⓗ LUONG XUAN NHI (1914 - 2006)

"Jeunes filles de Hanoï partant pour la Résistance"

Aquarelle sur papier
Cachet de l'artiste en bas à droite
65 x 91 cm

Confirmation de la famille de l’artiste au verso de l’œuvre.

Lương Xuân Nhị représente ici le départ des habitants de la capitale vers la résistance sans recourir aux images de violence, de destruction ou de guerre héroïque. Au contraire, l’œuvre se déploie dans une atmosphère empreinte de douceur, de lyrisme et d’une poésie discrète. “Jeunes filles de Hanoï partant pour la Résistance” ne traite pas seulement du thème de la guerre ou de la figure de la jeune femme hanoïenne ; elle constitue également la prise de parole sensible d’un artiste face au destin de sa nation.

Dans cette composition, Lương Xuân Nhị dépeint deux jeunes femmes à l’élégance profondément urbaine, devenues comme l’incarnation spirituelle de Hanoi entrant dans la grande résistance nationale. La scène de guerre, réalisée à l’aquarelle, est traduite avec un langage plastique simple et naturel, traversé d’une fraîcheur émotionnelle singulière. La présence de soldats, de paysans ou encore d’enfants esquisse l’atmosphère de la période de résistance dans un village rural, mais selon une vision profondément différente des représentations habituelles du conflit.

Au sein de cette ambiance collective, les deux jeunes femmes de la capitale s’engagent dans la résistance avec toute la dignité et la sensibilité propres aux habitants de Hanoi. Leur élégance naturelle semble rayonner au milieu du paysage rural et vient adoucir la dureté de la guerre. Dans cet élan volontaire et résolu, au cœur d’un décor composé de collines, de végétation, de chemins de campagne et de rizières, la présence de ces jeunes femmes quittant la ville pour rejoindre la résistance confère à la scène une rare dimension poétique, offrant une vision profondément humaniste et délicatement lyrique de la guerre.

LƯƠNG XUÂN NHỊ (1914 - 2006)
"Thiếu nữ Thủ Đô đi kháng chiến"

Màu nước trên giấy
Đóng triện ở góc dưới bên phải
65 x 91 cm

Xác nhận của gia đình họa sĩ ở mặt sau tác phẩm

Khung cảnh người dân Thủ đô lên đường đi kháng chiến trong tranh của họa sĩ Lương Xuân Nhị không có dáng vẻ của sự khốc liệt hay đạn bom khói lửa mà mang một cảm xúc nhẹ nhàng và nét trữ tình, thơ mộng. "Thiếu nữ Thủ đô đi kháng chiến" không chỉ vẽ về cuộc chiến, về đề tài thiếu nữ Hà Nội, mà còn là tiếng nói lương tri của một nghệ sĩ trước vận mệnh dân tộc.

Trong bức tranh, họa sĩ Lương Xuân Nhị đã khắc họa hình ảnh hai thiếu nữ với đậm khí chất thị thành, được đúc kết như một biểu tượng của tinh thần Thủ đô bước vào cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc. Khung cảnh thời chiến trong tác phẩm màu nước này cũng được họa sĩ tái hiện bằng ngôn ngữ tạo hình dung dị, toát lên xúc cảm tươi mới. Sự xuất hiện của các nhân vật bộ đội, nông dân, em bé… phác tả không khí giai đoạn kháng chiến ở một làng quê nông thôn, với một cách nhìn rất khác. Hòa trong không khí chung ấy, hai thiếu nữ Thủ đô bước vào cuộc kháng chiến với cốt cách, tinh thần riêng có của người Hà Nội. Khí chất thanh lịch riêng như tỏa sáng giữa không gian mộc mạc thôn quê và làm mềm đi sự khốc liệt của chiến tranh. Trong tâm thế sẵn sàng dấn thân và tự nguyện, giữa khung cảnh một vùng nông thôn với núi đồi, cây cỏ, đường quê và những cánh đồng…, sự xuất hiện của hai thiếu nữ Thủ đô lên đường đi kháng chiến dường như đã tạo nên một nét thơ hiếm có, một góc nhìn thi vị về chiến tranh.

Định giá : 25,000 EUR - 30,000 EUR
Xem
Lot: 59
Ⓗ VU CAO DAM (1908 - 2000) "Méditation"

Ⓗ VU CAO DAM (1908 - 2000)

"Méditation"

Huile sur toile
Signée en bas à gauche
55 x 46 cm

Vũ Cao Đàm nourrit une profonde affinité pour le thème de la méditation et du bouddhisme. Ce sujet semble devenir, chez lui, moins un thème narratif qu’un prétexte poétique lui permettant d’entrer en dialogue avec l’amateur d’art à travers un univers pictural riche en couleurs et en matières. Par les tonalités bleues inspirées de la Méditerranée et de la région de Vence où l’artiste s’était installé, l’œuvre révèle une fusion subtile entre les influences occidentales et les racines spirituelles orientales du peintre, dans lesquelles le bouddhisme demeure un refuge intérieur essentiel. Le spectateur perçoit une correspondance silencieuse entre la figure représentée et la fleur de lotus : le vêtement extérieur entièrement blanc, associé au col laissant apparaître des tonalités jaunes ponctuées de touches chaudes, évoque délicatement le cœur même du lotus. La beauté intemporelle du personnage touche ainsi les couches les plus profondes de la conscience et suscite une émotion esthétique proche de l’expérience spirituelle. Le mudrā des mains et la posture en position de lotus sont renforcés par une organisation très maîtrisée des masses et des lignes, soulignant à la fois la stabilité intérieure de la figure et cette liberté aérienne, presque flottante, propre à l’univers de Vũ Cao Đàm. Ce sont là des essences spirituelles et plastiques que l’artiste a su transformer en langage pictural, capable de toucher et de nourrir durablement les sensibilités des amateurs d’art.

VŨ CAO ĐÀM (1908 - 2000)
"Thiền"

Sơn dầu trên vải
Ký tên ở góc dưới bên trái
55 x 46 cm

Họa sĩ Vũ Cao Đàm yêu thích chủ đề “thiền”. Dường như ông dùng chủ đề như một lí do để kể chuyện, bầu bạn cùng người yêu nghệ thuật trong thế giới màu sắc phong phú của những chất liệu hội họa. Bằng màu xanh của Địa Trung Hải vùng Vence nơi họa sĩ chuyển về sinh sống, tác phẩm thể hiện sự hòa quyện của nguồn cảm hứng từ phương Tây với cội nguồn của người họa sĩ, nơi đạo Phật vẫn là một sự an trú của tâm hồn con người. Người yêu nghệ thuật nhận được tín hiệu đồng nhất giữa nhân vật và hoa sen ở phục sức lớp ngoài toàn trắng và phần cổ áo nhân vật để lộ sắc vàng điểm những chấm và nét màu ấm như nhị hoa sen. Nét đẹp không tuổi của nhân vật lay động người xem ở những tầng tâm thức siêu việt nhất, đem lại rung cảm thẩm mỹ tương tự như với trải nghiệm tín ngưỡng. Thủ ấn, tư thế tòa sen được bổ trợ bởi những mảng, nét sắp xếp có chủ ý, nhấn mạnh sự vững chắc nhưng không mất đi cái thần phóng khoáng phiêu diêu. Đó là những tinh hoa đã được người nghệ sĩ chuyển hóa trong tác phẩm, chạm tới và nuôi dưỡng những tâm hồn yêu nghệ thuật.

Định giá : 50,000 EUR - 80,000 EUR
Xem
Lot: 60
Ⓗ PHAN KE AN (1923 - 2018) "Paysage des collines", 1971

Ⓗ PHAN KE AN (1923 - 2018)

"Paysage des collines", 1971

Panneau en bois laqué
Signé et daté en bas à gauche
91 x 112 cm

Cette œuvre est accompagnée d’un certificat émis par la famille de l’artiste.

Phan Kế An naît en 1923. Formé à l’École des Beaux-Arts de l’Indochine, il poursuit ensuite un important séjour d’étude à l’Académie des Beaux-Arts Répine. Maîtrisant de nombreux médiums, notamment la laque, il demeure l’un des artistes majeurs de la peinture moderne vietnamienne. Parmi ses œuvres les plus emblématiques figure “Nhớ một chiều Tây Bắc”, aujourd’hui conservée et exposée au Musée des Beaux-Arts du Vietnam.

Dans “Paysage des collines”, Phan Kế An choisit de représenter l’une des essences végétales les plus caractéristiques du paysage des régions montagneuses du Nord- Ouest vietnamien : le palmier à éventail. La beauté naturelle de cet arbre attire non seulement le regard du peintre, sensible à la poésie du paysage, mais devient également une source d’inspiration récurrente dans son œuvre. Parmi les artistes issus de l’École des Beaux-Arts de l’Indochine, Phan Kế An est sans doute celui qui consacra le plus grand nombre de compositions à cet arbre emblématique.

Dans cette œuvre, les feuilles de palmier dominent la composition grâce à leurs tonalités jaunes qui structurent l’avant-plan et révèlent toute leur adéquation avec le langage visuel de la laque. Le peintre restitue ici un fragment de forêt des collines intermédiaires, peut-être à l’instant où les feuilles se laissent envelopper par une lumière de fin de journée, imprégnée de cette mélancolie silencieuse propre au crépuscule.

PHAN KẾ AN (1923 - 2018)
"Phong cảnh Trung du", 1971

Sơn mài trên tấm gỗ
Ký tên và đề năm ở góc dưới bên trái
91 x 112 cm

Tác phẩm đi kèm giấy xác nhận từ gia đình họa sĩ.

Họa sĩ Phan Kế An sinh năm 1923. Ông học Trường Mỹ thuật Đông Dương và đã có thời gian thực tập hội họa hoành tráng tại Viện hàn lâm Mỹ thuật Repin, Liên Xô. Thành công với nhiều chất liệu trong đó có sơn mài, ông là họa sĩ của nhiều sáng tác quan trọng trong nền mỹ thuật hiện đại của Việt Nam, đặc biệt để lại ấn tượng sâu đậm với “Nhớ một chiều Tây Bắc” - tác phẩm được lưu giữ và trưng bày tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam.

Với tác phẩm “Phong cảnh trung du” ở đây, họa sĩ Phan Kế An đã khắc họa loài thực vật nổi bật trong cảnh quan vùng Tây Bắc. Tạo hình tự nhiên của cọ không chỉ thu hút ánh mắt của người họa sĩ mang tâm hồn nhạy cảm với cái đẹp mà còn tạo nguồn cảm hứng mạnh mẽ để ông sáng tác. Có thể trong những họa sĩ học Trường Mỹ thuật Đông Dương thì Phan Kế An là họa sĩ sáng tác nhiều nhất về cây cọ. Trong tác phẩm hiện tại, những lá cọ nổi bật nhờ sắc vàng trọng tâm trong bố cục tiền cảnh, tỏ rõ sự phù hợp khi được tạo hình trên chất liệu sơn mài. Họa sĩ Phan Kế An đã tái hiện một góc rừng trung du, phải chăng vào lúc những lá cọ đang tắm mình trong thứ ánh sáng gây cảm giác đượm buồn trĩu nặng của hoàng hôn

Định giá : 60,000 EUR - 80,000 EUR
Xem
Lot: 61
Ⓟ NGUYEN GIA TRI (1908-1993) "Paysage abstrait"

Ⓟ NGUYEN GIA TRI (1908-1993)

"Paysage abstrait"

Panneau en bois laqué polychrome et incrustations de coquilles d'oeufs
Signé en bas à gauche
70 x 100 cm

Provenance : Collection privée de la région parisienne.


NGUYỄN GIA TRÍ (1908–1993)
"Phong cảnh trừu tượng"

Tấm sơn mài đa sắc trên gỗ, có khảm vỏ trứng
Ký tên ở góc dưới bên trái
70 x 100 cm

Nguồn gốc : Bộ sưu tập tư nhân khu vực Paris.

Định giá : 40,000 EUR - 60,000 EUR
Xem
Lot: 62
Ⓟ MAI TRUNG THU (1906-1980) Rare livre d'Or de l'Imprimerie Junes

Ⓟ MAI TRUNG THU (1906-1980)

Rare livre d'Or de l'Imprimerie Junes

L'ouvrage en reliure en plein cuir brun, renfermant sur plusieurs des pages des dessins, dédicaces et mots, de divers artistes du XXe siècle ayant fait appel aux service de cette Imprimerie. Parmi les contributeurs figurent notamment Jacques Faizant, Jean Rigaud, Alain Bonnefoit, André Renoux, Maurice Lemaître, Bernard Conte, Roland Lefranc, Robert Delval, Philippe Gautier, Nino Giuffrida, Pierre Ino, Marie-Louise Cirée, Jean William Hanoteau et Ibu Poilâne.
L'ouvrage présentant entre autre une oeuvre de Mai Trung Thu au feutre noir, représentant une Mère et son enfant, signée et datée 1976 et dédicacée "A l'Imprimerie Junes, avec toute mon admiration"
Allant des années 1975 à 1981.
Ouvrage : 38,7 x 29,5 cm
Feuille : 37,5 x 28 cm
(Brunissement et rousseurs)


MAI TRUNG THỨ (1906–1980)
Sách lưu bút quý hiếm của Nhà in Junes

Tác phẩm đóng bìa da nâu nguyên quyển, trong đó có nhiều trang chứa các bản vẽ, lời đề tặng và ghi chú của nhiều nghệ sĩ thế kỷ XX từng sử dụng dịch vụ của nhà in này. Trong số các cộng tác viên có Jacques Faizant, Jean Rigaud, Alain Bonnefoit, André Renoux, Maurice Lemaître, Bernard Conte, Roland Lefranc, Robert Delval, Philippe Gautier, Nino Giuffrida, Pierre Ino, Marie-Louise Cirée, Jean William Hanoteau và Ibu Poilâne.

Cuốn sách có bao gồm một tác phẩm của Mai Trung Thứ bằng bút dạ đen, thể hiện hình ảnh Người mẹ và đứa trẻ, ký tên và ghi niên đại 1976, kèm đề tặng: “Gửi Nhà in Junes, với tất cả sự ngưỡng mộ của tôi”.
Niên đại: 1975–1981
Kích thước sách: 38,7 x 29,5 cm
Kích thước tờ: 37,5 x 28 cm
(Vàng giấy và ố nâu theo thời gian)

Định giá : 10,000 EUR - 15,000 EUR
Xem
Lot: 63
Ⓗ LE NANG HIEN (1921-2014) "Jeune fille songeuse", 1983

Ⓗ LE NANG HIEN (1921-2014)

"Jeune fille songeuse", 1983

Encre et couleurs sur soie
Signée, cachetée et datée en haut à gauche
60 x 42 cm

L’œuvre est reproduite dans l’ouvrage « Năng Hiển », publié en 2018 par les éditions NXB Mỹ Thuật, p. 171.

Lê Năng Hiển évoque ici une vision profondément nostalgique du printemps. La silhouette de la jeune femme semble se replier sur elle-même, comme enfermée dans le souvenir. Chaque élément de la composition participe à cette atmosphère empreinte de mélancolie et de réminiscence. L’artiste dispose avec intention une branche de fleurs de pêcher aux accents légèrement tristes devant une peinture de beauté féminine traditionnelle. Les lignes sinueuses de la branche, placée dans un vase aux formes arrondies, accentuent subtilement le sentiment de regret et de nostalgie. La grâce de la jeune femme apparaît d’autant plus discrète et pudique qu’elle semble chercher à se dissimuler dans ses pensées. La présence explicite d’un voile ou d’un rideau dans la scène renforce cette impression d’intériorité. Grâce à cette organisation de l’espace, le personnage semble se retirer dans un univers intime où il peut librement laisser émerger ses émotions et ses réflexions silencieuses.

LÊ NĂNG HIỂN (1921 - 2014)
"Thiếu nữ trầm tư", 1983

Mực và màu trên lụa
Ký tên, đóng triện và đề năm ở góc trên bên trái
60 x 42 cm

Tác phẩm được in trong sách: Năng Hiển, 2018 - NXB Mỹ Thuật, trang 171.

Tác phẩm mang hoài niệm của họa sĩ Lê Năng Hiển với mùa xuân. Dáng vẻ cô gái như gò mình trong những kỷ niệm. Từng mảng của bố cục tác phẩm bổ trợ vào ý tưởng chung về một tinh thần hoài cổ. Họa sĩ dụng tâm sắp xếp cành hoa đào đượm buồn trước bức tranh tố nữ. Sự khúc khuỷu của cành hoa trong chiếc bình tròn trịa nhấn mạnh nỗi buồn và tiếc nuối. Vẻ đẹp của cô gái càng e lệ và có xu hướng giấu mình đi cùng những tư lự - họa sĩ cho thấy rõ một bức mành trong khung cảnh. Từ cách bố trí này, nhân vật có được cho mình một khoảng không gian riêng tư, tự biểu đạt những suy nghĩ và cảm xúc trong lòng.

Định giá : 2,500 EUR - 5,000 EUR
Xem
Lot: 64
Ⓗ NGUYEN VAN TY (1917 - 1992) "Plage de Nam Ô - Đà Nẵng", 1984

Ⓗ NGUYEN VAN TY (1917 - 1992)

"Plage de Nam Ô - Đà Nẵng", 1984

Huile sur toile
Signée, datée et située en bas à droite
60 x 80 cm

Nguyễn Văn Tỵ (1917-1992), diplômé de la XIe promotion de l’École des Beaux-Arts de l’Indochine, compte parmi les figures majeures de l’histoire de l’art vietnamien moderne. Son œuvre couvre une grande diversité de techniques — laque, huile, soie, gravure — et chacune d’elles porte l’empreinte de son talent. Avant 1945 déjà, il obtient plusieurs distinctions prestigieuses, notamment une médaille d’or en 1936 et un Grand Prix lors du Salon de la SADEAI en 1939. Nguyễn Văn Tỵ affectionnait particulièrement une démarche fondée sur l’observation et le relevé sur le terrain. Chacune de ses œuvres naissait d’un travail approfondi de recherche et d’étude. Selon ses contemporains, il s’efforçait de comprendre la géographie, les terres, l’histoire des populations et des régions qu’il souhaitait représenter. Il recherchait les caractéristiques propres à chaque lieu — couleurs, coutumes, paysages et modes de vie — afin de les transposer ensuite dans ses créations à travers différents médiums. Cette méthode explique pourquoi tout ce qui apparaît dans "Plage de Nam Ô" procède d’une expérience vécue, observée et ressentie directement par l’artiste.

Réalisée en 1984, cette œuvre appartient à une série de peintures consacrées au littoral du Centre du Vietnam, aux côtés de compositions telles que Biển Kỳ Hà ou Đảo dừa, exécutées à l’occasion de voyages d’étude dans la région. Comme dans une grande partie de son œuvre, il ne s’agit pas d’une simple transcription d’une impression visuelle passagère, mais du résultat d’une immersion prolongée dans la réalité du paysage et de la vie locale.

Dans "Plage de Nam Ô", le regard s’ouvre sur une vaste composition où une longue bande de sable conduit l’œil jusqu’à l’horizon. Sur le rivage reposent des embarcations de pêche et des coracles revenus de la mer, tandis qu’au large d’autres bateaux se balancent encore au rythme des vagues. Près de l’eau, un groupe de pêcheurs tire ses filets, introduisant un mouvement discret au sein de l’immensité marine. L’ensemble dégage une impression de simplicité et d’authenticité, comme si la vie quotidienne du littoral se révélait directement sous les yeux du peintre.

C’est précisément cette proximité avec les lieux qu’il observait qui confère à l’œuvre sa fraîcheur et sa sincérité. Le spectateur découvre ici une mer d’un bleu émeraude limpide, une plage dorée s’étirant jusqu’à l’infini, des montagnes aux tonalités bleu pâle dans le lointain et des nuages encore teintés des reflets rosés de la lumière. Tout apparaît naturel, lumineux et paisible dans une écriture picturale qui semble spontanée mais révèle en réalité une très grande maîtrise technique. Les touches de couleur sont posées avec rapidité et légèreté, donnant l’illusion d’une exécution immédiate, alors qu’elles témoignent d’une profonde compréhension de la lumière, de l’espace et des nuances de la nature.

Cette œuvre est accompagnée d’un certificat émis par la famille de l’artiste.

NGUYỄN VĂN TỴ (1917-1992)
"Bãi biển Nam Ô - Đà Nẵng", 1984

Sơn dầu trên vải
Ký tên, đề năm và địa điểm ở góc dưới bên phải
60 x 80 cm

Tác phẩm đi kèm giấy xác nhận từ gia đình họa sĩ.

Họa sĩ Nguyễn Văn Tỵ (1917-1992), tốt nghiệp Khóa XI Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, là một trong những họa sĩ nổi tiếng với nhiều thành tựu trong sáng tạo trong lịch sử mỹ thuật Việt Nam. Ông sáng tác đa dạng chất liệu, từ sơn mài, sơn dầu, lụa, tranh khắc… với chất liệu nào ông cũng để lại dấu ấn. Trước 1945, ông đã đạt được nhiều giải thưởng từ rất sớm như huy chương vàng năm 1936, giải ngoại hạng năm 1939 ở SADEAI…

Nguyễn Văn Tỵ là họa sĩ yêu thích sáng tác trên nền của những ghi chép. Mỗi tác phẩm của ông đều bắt đầu từ những chuyến đi thực tế được ghi chép và nghiên cứu rất kỹ lưỡng. Ông từng “gắng sức học về địa hình, đất đai, lịch sử của những con người, những nơi ông cần vẽ. Ông cần những đặc trưng, đặc điểm, màu sắc, phong tục, cảnh vật từng nơi đến vẽ để trên cơ sở đó dựng tranh trên nhiều chất liệu khác nhau…”. Chính điều đó cho thấy những gì xuất hiện trong Bãi biển Nam Ô đều là những hình ảnh người họa sĩ trực tiếp nhìn thấy, cảm nhận và giữ lại bằng cảm xúc chân thực của mình.

Tác phẩm Bãi biển Nam Ô, Đà Nẵng cùng một số sáng tác như Biển Kỳ Hà hay Đảo dừa được Nguyễn Văn Tỵ thực hiện năm 1984 trong những chuyến đi nghiên cứu thực tế tại miền Trung. Cũng như nhiều tác phẩm khác của ông, bức tranh không đơn thuần là một phong cảnh được ghi lại bằng cảm xúc thị giác nhất thời, mà là kết quả của quá trình quan sát, tìm hiểu và sống cùng thực tế đời sống địa phương.

Trong Bãi biển Nam Ô, trước mắt người xem mở ra một bố cục rộng với dải cát trải dài hút tầm mắt đến tận đường chân trời. Trên bờ là những chiếc thuyền mảng, thuyền thúng đang nằm nghỉ sau chuyến ra khơi, trong khi ngoài mặt biển, các con thuyền khác vẫn nhấp nhô theo nhịp sóng. Gần mép nước, một nhóm ngư dân đang kéo lưới, tạo nên nhịp chuyển động nhẹ nhàng giữa không gian biển rộng lớn. Toàn bộ cảnh vật mang cảm giác dung dị và tự nhiên như chính hơi thở đời sống miền biển hiện lên trước mắt người họa sĩ.

Vì thế, tranh của Nguyễn Văn Tỵ luôn mang vẻ dung dị và gần gũi với thiên nhiên mà ông đặt chân đến. Trong tác phẩm này, người xem cảm nhận rõ mặt biển xanh ngọc trong vắt, dải cát vàng rực kéo dài đến tận chân trời, phía xa là núi xanh nhạt và những lớp mây trắng còn ánh lên sắc hồng của nắng. Tất cả đều hiện lên tự nhiên, thanh mát và nhẹ nhàng trong một bút pháp tưởng chừng giản dị nhưng thực chất chứa đựng trình độ kỹ thuật rất cao. Những mảng màu được đặt xuống nhanh, thoáng và tự nhiên đến mức tạo cảm giác như người họa sĩ “chỉ đặt bút là thành”, nhưng phía sau đó là cả một quá trình quan sát tinh tế cùng khả năng nắm bắt ánh sáng, không gian và sắc độ thiên nhiên rất sâu sắc.

Định giá : 16,000 EUR - 20,000 EUR
Xem
Lot: 65
Ⓗ BUI XUAN PHAI (1920-1988) "Plage de Mỹ Khê, Đà Nẵng", 1985

Ⓗ BUI XUAN PHAI (1920-1988)

"Plage de Mỹ Khê, Đà Nẵng", 1985

Huile sur panneau en bois
Signée et datée en bas à gauche
20 x 26.8 cm

Bùi Xuân Phái demeure indissociable, dans l’histoire de la peinture vietnamienne, de ses célèbres scènes de rues anciennes ou de ses compositions consacrées au théâtre chèo. Pourtant, ses peintures de la mer constituent également un ensemble important, contribuant pleinement à la richesse et à la profondeur de son œuvre. Réalisée en 1985, “Plage de Mỹ Khê, Đà Nẵng” traduit l’un des états émotionnels du peintre face à l’univers marin. Devant l’immensité baignée par les tonalités bleues de la mer et du ciel, le spectateur découvre une autre dimension de la sensibilité de l'artiste.

L’âme de l’artiste semble ici plus libre, plus ouverte, comme portée vers l’horizon infini qui s’étend devant lui. Attiré par les vastes surfaces bleutées de la mer et du ciel, le regard suit naturellement les mouvements du pinceau qui conduisent l’espace du lointain vers le premier plan. Là apparaissent les vagues écumantes venant frapper le rivage ainsi qu’une petite embarcation solitaire amarrée près de la côte. Cette barque isolée crée à la fois un équilibre visuel et une impression profondément symbolique, rappelant la fragilité de la condition humaine face à l’immensité de l’océan.

Dans les œuvres marines de Bùi Xuân Phái, la présence des embarcations revient fréquemment comme un motif essentiel : une métaphore discrète de la solitude humaine et de la vulnérabilité des destinées confrontées à l’infini et aux tempêtes du monde.

BÙI XUÂN PHÁI (1920 - 1988)
"Biển Mỹ Khê, Đà Nẵng", 1985

Sơn dầu trên tấm gỗ
Ký tên và đề năm ở góc dưới bên trái
20 x 26.8 cm

Nếu hội họa Việt Nam thường nhắc danh họa sĩ Bùi Xuân Phái với tranh phố, tranh chèo..., thì loạt tranh vẽ biển cũng là những tác phẩm tạo nên độ dầy và giá trị cho sưu tập hội họa của người họa sĩ tài năng.

Tác phẩm “Biển Mỹ Khê, Đà Nẵng” được họa sĩ Bùi Xuân Phái sáng tác năm 1985 đã ghi lại một trong những trạng thái cảm xúc về biển của ông. Trước không gian bao la được nhuốm bởi sắc xanh của biển và mây trời, người xem dường như thấy được một tâm trạng, cảm xúc khác của Họa sĩ. Tâm hồn nghệ sĩ dường như phóng khoáng và rộng mở hơn, khi ánh nhìn của ông chạm tới khoảng rộng bao la phía chân trời.

Thu hút ánh nhìn vào những mảng màu xanh ngắt của biển, của trời, chuyển động thị giác của người xem cũng theo nét cọ kéo không gian từ phía xa vào tiền cảnh. Ở đó, có những ngọn sóng bạc đầu xô bờ ào ạt, có con thuyền độc mộc đang neo đậu cô đơn. Hình ảnh con thuyền nhỏ tạo một ấn tượng và cân bằng thị giác, đồng thời gợi nhớ đến thân phận nhỏ bé của con người trước đại dương. Trong các tác phẩm về biển của Bùi Xuân Phái, hình ảnh những con thuyền luôn xuất hiện như một điểm nhấn- phép ẩn dụ về số phận mỏng manh và trạng thái cô đơn của con người trước sóng gió bao la.

Định giá : 9,000 EUR - 12,000 EUR
Xem
Lot: 66
Ⓟ NGUYEN KHANG (1911-1989) "Les pêcheurs au clair de lune"

Ⓟ NGUYEN KHANG (1911-1989)

"Les pêcheurs au clair de lune"

Diptyque, panneaux en bois laqué et doré sur fond noir
Signé en bas à droite et porte une signature sous forme de cachet en haut à droite
60 x 90 cm (par panneau)
60 x 180 cm (total)

Provenance : Acquis par l'actuel propriétaire au cours de son séjour au Vietnam entre septembre 1983 et août 1987, alors qu’il exerçait les fonctions de conseiller culturel et scientifique auprès de l’ambassade de France. Les deux œuvres ont été achetées à Hô Chi Minh-Ville, dans une galerie officielle dont le nom n’a pas été conservé. Le propriétaire eu l’occasion de rencontrer plusieurs figures majeures de la scène artistique vietnamienne, telles que Nguyễn Tư Nghiêm, Dương Bích Liên, Bùi Xuân Phái, Nguyễn Sáng, Trần Đông Lương ou Nguyễn Văn Tỵ.

Nguyễn Khang est né en 1911 dans le village de Yên Thái, près de Hanoï. Il fit sa formation à l’École des Beaux-Arts de Hanoï, dont il sortit diplômé en 1935, aux côtés des éminents artistes Phạm Hậu, Trần Văn Cẩn ou encore Nguyễn Gia Trí. Artiste pionnier dans son domaine, il fut particulièrement reconnu dans l’art de la laque.

En travaillant ce médium traditionnel vietnamien de façon ingénieuse, notamment en ciselant le support et en incorporant des pigments d’or et d’argent appliqués directement sur le panneau, les créations de Nguyễn Khang se distinguent par leur grande finesse et par leur modernisme.

Le sujet ici représenté, une scène de pêche au clair de lune, fut repris à plusieurs reprises par l’artiste dès les années 1940. Décliné aussi bien en panneau simple (dont un présenté au Musée des Beaux-Arts du Vietnam à Hanoï, cf. illustration), en diptyque, comme notre présent panneau, ou encore en triptyque (voir vente Bonhams du 31 mars 2025, lot n°7).

Dans notre variation, la partie gauche du panneau présente deux pêcheurs ramant, tandis que celui à l’avant de l’embarcation ramène le filet ; le panneau de droite, en continuité, illustre deux pêcheurs dans une embarcation et deux autres immergés dans l’eau, probablement à la recherche de coquillages. Sont présents sur le panneau de droite les deux sceaux de l’artiste. Cette réalisation est datable de 1980, période pendant laquelle l’artiste ajouta cette seconde embarcation en fond à la composition originale.

Par ses créations, rares sur le marché, Nguyễn Khang contribua à faire de la technique de la laque l’une des plus sophistiquées de la sphère artistique vietnamienne du XXe siècle, la popularisant sur la scène internationale.


NGUYỄN KHANG (1911-1989)
"Những người đánh cá dưới ánh trăng"

Tác phẩm dạng diptyque, sơn mài và thếp vàng trên nền gỗ sơn đen
Ký tên phía dưới bên phải và có con dấu ký hiệu ở góc trên bên phải
60 x 90 cm (mỗi tấm)
60 x 180 cm (tổng thể)

Xuất xứ: Được chủ sở hữu hiện tại mua lại trong thời gian công tác tại Việt Nam từ tháng 9 năm 1983 đến tháng 8 năm 1987, khi ông giữ chức vụ tùy viên văn hóa và khoa học tại Đại sứ quán Pháp. Hai tác phẩm đã được mua tại Thành phố Hồ Chí Minh, trong một phòng trưng bày chính thức mà tên gọi không còn được lưu giữ. Chủ sở hữu đã có dịp gặp gỡ nhiều nhân vật tiêu biểu của giới mỹ thuật Việt Nam như Nguyễn Tư Nghiêm, Dương Bích Liên, Bùi Xuân Phái, Nguyễn Sáng, Trần Đông Lương và Nguyễn Văn Tỵ.

Nguyễn Khang sinh năm 1911 tại làng Yên Thái, gần Hà Nội. Ông theo học tại Trường Mỹ thuật Hà Nội và tốt nghiệp năm 1935, cùng lớp với các nghệ sĩ tên tuổi như Phạm Hậu, Trần Văn Cẩn và Nguyễn Gia Trí. Là một nghệ sĩ tiên phong trong lĩnh vực của mình, ông đặc biệt được công nhận trong nghệ thuật sơn mài.

Bằng việc xử lý chất liệu truyền thống của Việt Nam một cách tinh tế và sáng tạo — đặc biệt là kỹ thuật khắc bề mặt và đưa vàng, bạc vào trực tiếp trên nền gỗ — các sáng tác của Nguyễn Khang nổi bật bởi sự tinh xảo và tính hiện đại.

Chủ đề trong tác phẩm này — cảnh đánh cá dưới ánh trăng — là một đề tài mà nghệ sĩ đã khai thác nhiều lần từ những năm 1940. Đề tài này từng được thể hiện dưới dạng tranh đơn (trong đó có một tác phẩm đang trưng bày tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam ở Hà Nội, xem minh họa), diptyque như tác phẩm hiện tại, hoặc triptyque (xem phiên đấu giá Bonhams ngày 31 tháng 3 năm 2025, lô số 7).

Trong biến thể này, phần bên trái mô tả hai ngư dân đang chèo thuyền, trong đó một người ở đầu thuyền đang kéo lưới; phần bên phải tiếp nối với hình ảnh hai người trên thuyền và hai người khác đang ngâm mình dưới nước, có thể đang tìm kiếm sò, ốc. Trên tấm phải có hai con dấu của nghệ sĩ. Tác phẩm này được xác định có niên đại khoảng năm 1980, thời kỳ mà Nguyễn Khang đã thêm chiếc thuyền thứ hai ở hậu cảnh vào bố cục gốc.

Qua các sáng tác của mình — hiếm gặp trên thị trường — Nguyễn Khang đã góp phần nâng nghệ thuật sơn mài trở thành một trong những kỹ thuật tinh tế nhất trong nền mỹ thuật Việt Nam thế kỷ XX, đồng thời đưa nghệ thuật này ra tầm quốc tế.

Định giá : 100,000 EUR - 150,000 EUR
Xem
Lot: 67
Ⓟ NGUYEN VAN MINH (1930-2014) Envol d’oiseaux au coucher du soleil, 1987

Ⓟ NGUYEN VAN MINH (1930-2014)

Envol d’oiseaux au coucher du soleil, 1987

Paravent composé de quatre feuilles en bois laqué
Signé et daté en bas à droite
86 x 148 cm

Provenance : Collection privée, Sud de la France.

NGUYỄN VĂN MINH (1930–2014)
"Đàn chim bay lúc hoàng hôn", 1987

Bình phong gồm bốn tấm bằng gỗ sơn mài
Ký tên và ghi niên đại ở góc dưới bên phải
86 x 148 cm

Nguồn gốc : Bộ sưu tập tư nhân, miền Nam nước Pháp.

Định giá : 8,000 EUR - 12,000 EUR
Xem
Lot: 68
Ⓟ NGUYEN VAN MINH (1930-2014) Oiseau dans un arbre en fleur, 1987

Ⓟ NGUYEN VAN MINH (1930-2014)

Oiseau dans un arbre en fleur, 1987

Paravent composé de quatre feuilles en bois laqué
Signé, tamponné et daté en bas à droite
123 x 172 cm

Provenance : Collection privée, Sud de la France.


NGUYỄN VĂN MINH (1930–2014)
"Chim trên cây nở hoa", 1987

Bình phong gồm bốn tấm bằng gỗ sơn mài
Ký tên, đóng dấu và ghi niên đại ở góc dưới bên phải
123 x 172 cm

Nguồn gốc : Bộ sưu tập tư nhân, miền Nam nước Pháp.

Định giá : 8,000 EUR - 12,000 EUR
Xem
Lot: 69
Ⓗ VO VAN LANG, dit JEAN VOLANG (1921-2005) "Bouquet à l'anthurium"

Ⓗ VO VAN LANG, dit JEAN VOLANG (1921-2005)

"Bouquet à l'anthurium"

Huile sur toile
Signée en bas à gauche, titré au revers
73.5 × 60 cm

Võ Lăng semble ici rechercher la beauté au sein d’une atmosphère simple et familière du quotidien. Cette nature morte aux anthuriums représente un vase de fleurs traité dans une gamme de tonalités profondes et chaleureuses. Véritable moment de silence suspendu près d’une fenêtre, la composition trouve son équilibre visuel dans le bleu de la porte qui structure l’espace pictural.

La surface réservée à cette porte paraît plus légère, presque plus froide, introduisant une subtile nuance sensible qui confère à l’ensemble tout son charme. À travers l’atmosphère qui émane de l’œuvre, le peintre transmet de délicates impressions visuelles, éveillant chez le spectateur une imagination libre autour de l’espace représenté. Puis le regard revient vers cette porte bleue, ancienne et familière, dont la présence semble ouvrir un passage vers le souvenir. L’amateur d’art se laisse alors doucement emporter par le flux de la mémoire et de la nostalgie.

VÕ VĂN LĂNG (1921 - 2005)
"Tĩnh vật hoa hồng môn"

Sơn dầu trên vải
Ký tên ở góc dưới bên trái
73.5 x 60 cm

Họa sĩ Võ Lăng đang tìm kiếm cái đẹp trong một bầu không khí thường nhật giản dị. Tác phẩm tĩnh vật với hoa hồng môn mô tả bình hoa thuần những màu thẫm và trầm ấm. Là một khoảng lặng bên khung cửa sổ, sự cân bằng thị giác được thiết lập bởi màu xanh của cánh cửa. Mảng bố cục dành cho cánh cửa dường như nhạt hơn, dường như lạnh hơn, tạo thành nét duyên trong cảm nhận. Họa sĩ truyền tải qua bầu khí quyển trong tác phẩm những ấn tượng thú vị của thị giác, kích thích trí tưởng tượng của người xem về không gian được mô tả. Trở lại với cánh cửa màu xanh, một kiểu cửa rất xưa, người yêu nghệ thuật lại tiếp tục thả mình cùng dòng chảy của ký ức.

Định giá : 12,000 EUR - 15,000 EUR
Xem
Lot: 70
Ⓟ JEAN VOLANG (1921-2005) "Voiliers dans le port"

Ⓟ JEAN VOLANG (1921-2005)

"Voiliers dans le port"

Huile sur panneau
Signée en bas à gauche et titrée au dos
50 x 65 cm

Provenance : Collection particulière française.


JEAN VOLANG (1921–2005)
"Những cánh buồm trong cảng"

Tranh sơn dầu trên ván
Ký tên ở góc dưới bên trái và ghi tựa đề ở mặt sau.
50 x 65 cm

Nguồn gốc : Bộ sưu tập tư nhân Pháp.

Định giá : 1,500 EUR - 2,000 EUR
Xem
Lot: 71
Ⓟ JEAN VOLANG (1921-2005) "Les gardiens"

Ⓟ JEAN VOLANG (1921-2005)

"Les gardiens"

Huile sur toile
Signé en bas à gauche, contresigné et titrée au revers
65 x 81 cm

Provenance : Portant au dos une etiquette de la galerie au 167 rue de Vaugirard à Paris.


JEAN VOLANG (1921–2005)
"Những người gác"

Tranh sơn dầu trên vải bố
Ký tên ở góc dưới bên trái, có chữ ký xác nhận và ghi tựa đề ở mặt sau
65 x 81 cm
Nguồn gốc : Ở mặt sau có dán nhãn của phòng tranh tại số 167 rue de Vaugirard, Paris.

Định giá : 4,000 EUR - 5,000 EUR
Xem
Lot: 72
Ⓟ ƒ JEAN VOLANG (1921-2005) "Falaises d'Irlande"

Ⓟ ƒ JEAN VOLANG (1921-2005)

"Falaises d'Irlande"

Huile sur toile
Signée en bas à gauche, titrée et contresignée au dos
Avec encadrement en bois
50 x 99 cm

VÕ VĂNG LĂNG (1921 - 2005)
"Vách đá Ireland"

Sơn dầu trên toan.
Có chữ ký ở góc dưới bên trái, có tiêu đề và chữ ký đối chiếu ở mặt sau.
Có khung gỗ.
50 x 99 cm.

Định giá : 3,000 EUR - 4,000 EUR
Xem
Lot: 73
Ⓟ JEAN VOLANG (1921-2005) "Automne d'Or"

Ⓟ JEAN VOLANG (1921-2005)

"Automne d'Or"

Huile sur toile
Signée en bas à gauche et titrée au dos
50 x 65 cm

Provenance : Collection particulière française.


JEAN VOLANG (1921–2005)
"Thu Vàng"

Tranh sơn dầu trên vải bố
Ký tên ở góc dưới bên trái và ghi tựa đề ở mặt sau.
50 x 65 cm

Nguồn gốc : Bộ sưu tập tư nhân Pháp.

Định giá : 2,500 EUR - 3,000 EUR
Xem
Lot: 74
Ⓗ TRẦN DUY (1920 - 2014) "Paysage de Bích Động – Hoa Lư – Ninh Bình", 1993

Ⓗ TRẦN DUY (1920 - 2014)

"Paysage de Bích Động – Hoa Lư – Ninh Bình", 1993

Encre et couleurs sur soie
Signée, datée et cachetée en bas à droite
29 x 45 cm

Trần Duy affectionne particulièrement les paysages empreints de poésie et d’harmonie naturelle. Cette peinture sur soie intitulée “Paysage de Bích Động – Hoa Lư – Ninh Bình” figure parmi les œuvres les plus remarquables de son parcours artistique.

Sur le support traditionnel de la soie, l'artiste compose une palette délicate où couleurs et lignes se fondent avec subtilité pour créer une atmosphère profondément lyrique. L’âme raffinée, sensible et romantique du peintre — originaire de l’ancienne capitale impériale de Huế — constitue sans doute l’une des qualités essentielles qui confèrent à ses œuvres cette douceur si caractéristique. Les montagnes karstiques couvertes d’une végétation verdoyante, suivant les courbes souples de la rivière Ngô Đồng, forment le motif central de ce paysage emblématique de l’ancienne capitale Hoa Lư. Sur l’eau apparaissent deux petites embarcations transportant des visiteurs venus admirer le site. Les jeunes rizières semblent déployer un tapis vert entre montagnes et rivière, accentuant encore la sérénité du paysage. Par une touche délicate et maîtrisée, Trần Duy construit une composition équilibrée dont le réalisme subtil ouvre une véritable profondeur visuelle. L’un des détails les plus marquants réside dans la présence discrète d’un petit édifice niché au pied de la montagne, évocation à la fois du paysage culturel et du patrimoine spirituel propre à la région de Bích Động et Hoa Lư. Cet élément agit autant comme point d’ancrage visuel que comme symbole d’équilibre intérieur et de stabilité spirituelle, ressentis par ceux qui découvrent cette terre chargée d’histoire et de mémoire.

L’ensemble de l’œuvre dégage ainsi une beauté rêveuse où la poésie de la nature se mêle harmonieusement aux valeurs culturelles et identitaires du paysage vietnamien.

TRẦN DUY (1920 - 2014)
"Phong cảnh Bích Động - Hoa Lư - Ninh Bình", 1993

Mực và màu trên lụa
Ký tên, đề năm và đóng triện ở góc dưới bên phải
29 x 45 cm

Họa sĩ Trần Duy đặc biệt yêu thích vẽ cảnh sắc sơn thủy hữu tình. Bức tranh lụa “Phong cảnh Bích Động- Hoa Lư- Ninh Bình” là một trong những tác phẩm đáng chú ý của ông.

Trên chất liệu lụa truyền thống, Họa sĩ tạo một bảng màu dịu nhẹ, sắc và nét hòa quyện tạo nên một khung cảnh trữ tình. Tâm hồn duy mỹ, tinh tế và lãng mạn của người họa sĩ tài hoa xuất thân từ miền cố đô Huế là có lẽ là phẩm chất nổi bật, góp phần tạo nên nét đẹp nhẹ nhàng trong phần lớn các bức tranh lụa của ông. Những khối núi đá vôi được bao phủ bởi màu xanh của thảm thực vật, men theo đường uốn lượn mềm mại của dòng sông Ngô Đồng là điểm nhấn trong cảnh sắc sơn thủy đặc trưng ở cố đô Hoa Lư. Trên dòng sông xuất hiện hình ảnh hai chiếc thuyền nhỏ chở khách vãn cảnh. Những mảng ruộng lúa non như trải thêm chiếc thảm xanh giữa non nước. Bằng bút pháp tinh tế, Trần Duy đã khéo léo tạo nên một bố cục tạo hình cân đối, ngôn ngữ tả thực mang chiều sâu thị giác.

Chi tiết ấn tượng là hình ảnh một di tích nhỏ nằm nép mình ở chân núi – một phác tả cảnh quan và nét văn hóa đặc trưng ở vùng Bích Động- Hoa Lư. Chi tiết này vừa tạo điểm nhấn thị giác, vừa mang đến một cảm xúc về sự cân bằng, vững chãi trong tâm hồn và đời sống văn hóa - tâm linh của con người khi đến với mảnh đất mang giá trị lịch sử, cội nguồn. Tổng thể bức tranh toát lên vẻ đẹp mơ màng của cảnh sắc thiên nhiên, quyện hòa với những giá trị mang bản sắc văn hóa địa phương.

Định giá : 4,000 EUR - 6,000 EUR
Xem
Lot: 75
Ⓗ DO XUAN DOAN (1937-2015) "Jeu de colin-maillard", Hanoï 1995

Ⓗ DO XUAN DOAN (1937-2015)

"Jeu de colin-maillard", Hanoï 1995

Panneau en bois laqué
Signé, daté et situé en haut à gauche
61 x 81 cm

ĐỖ XUÂN DOÃN (1937 - 2015)
"Trò chơi bịt mắt bắt dê", Hà Nội 1995

Sơn mài trên tấm gỗ
Ký tên, đề năm và địa điểm ở góc trên bên trái
61 x 81 cm

Định giá : 6,000 EUR - 8,000 EUR
Xem
Lot: 76
Ⓗ NGUYEN TRUNG (né en 1940) "Jeune fille aux fleurs...", 2007

Ⓗ NGUYEN TRUNG (né en 1940)

"Jeune fille aux fleurs...", 2007

Huile sur toile
Signée et datée en bas à gauche
79.6 × 65 cm

L’œuvre est accompagnée d’un certificat d’authenticité émis par l’artiste, ainsi que de photographies et d’une vidéo avec l’artiste.

Nguyễn Trung développe une œuvre oscillant entre figuration et abstraction. Son approche artistique procède d’une quête intérieure profonde, fidèle à cette « inclination déjà présente au fond de nous-mêmes » qu’il évoquait lui-même. Ses créations dégagent ainsi une dimension spirituelle et intime, que l’on pourrait définir comme l’ expression d’un esprit profondément enraciné dans la sensibilité locale, révélé à travers la personnalité singulière de l’artiste.

Dans cette œuvre, Nguyễn Trung confie au personnage la mission de transmettre ses émotions et son univers intérieur au spectateur. Une jeune femme vietnamienne, absorbée dans ses pensées, incline délicatement sa silhouette vers un vase de fleurs. Son attitude douce et réservée traduit une grâce empreinte de pudeur. Entre le monde réel qui l’entoure et le mouvement intérieur de sa pensée semble s’opérer une forme de fusion silencieuse.

La figure acquiert ainsi une dimension méditative, diffusant une sensation de calme, de contemplation et de recueillement. À travers l’état intérieur du personnage, le peintre invite le regardeur à partager une expérience de silence et d’introspection.

NGUYỄN TRUNG (sinh năm 1940)
"Thiếu nữ bên hoa...", 2007

Sơn dầu trên vải
Ký tên và đề năm ở góc dưới bên trái
79.6 x 65 cm

Tác phẩm đi kèm giấy xác nhận từ họa sĩ, đi kèm ảnh chụp, video cùng họa sĩ.

Họa sĩ Nguyễn Trung sáng tác theo cả hai lối biểu hình và trừu tượng. Ông theo đuổi một tinh thần nghệ thuật sâu bên trong, như ông từng chia sẻ về “khuynh hướng đã có sẵn ngay trong lòng chúng ta”. Vì vậy, tác phẩm nghệ thuật ông tạo ra luôn toát lên tinh thần ấy, có thể gọi là một tinh thần bản địa bộc lộ qua cá tính của người họa sĩ. Với một tác phẩm như ở đây, Nguyễn Trung gửi gắm nhờ nhân vật truyền tải cảm xúc và tâm hồn của mình đến với người xem. Một cô gái Việt Nam đang chìm trong dòng suy tư, tạo dáng nghiêng về phía chiếc bình hoa, biểu hiện dịu dàng và e ấp. Có lẽ giữa không gian thực tại và tư tưởng của cô gái, một sự thẩm thấu đang diễn ra. Nhân vật do đó mang tính thiền, lan tỏa sự tĩnh tại và chiêm nghiệm từ trạng thái của mình đến người xem.

Định giá : 22,000 EUR - 30,000 EUR
Xem
Lot: 77
Ⓟ HO HUU THU (1942-2024) "Femme et coq"

Ⓟ HO HUU THU (1942-2024)

"Femme et coq"

Panneau en laque polychrome
Signé en bas à gauche
90 x 60 cm

Provenance : Collection particulière française.


HỒ HỮU THỦ (1942–2024)
"Người phụ nữ và gà trống"

Tranh sơn mài đa sắc trên ván
Ký tên ở góc dưới bên trái
90 x 60 cm

Nguồn gốc : Bộ sưu tập tư nhân Pháp.

Định giá : 8,000 EUR - 12,000 EUR
Xem
Lot: 78
Ⓟ NGUYEN PHAN CHANH (1892-1984), Atelier de "Cueillette de liserons d’eau" (Hái rau muống)

Ⓟ NGUYEN PHAN CHANH (1892-1984), Atelier de

"Cueillette de liserons d’eau" (Hái rau muống)

Encre et couleurs sur soie
Marouflée sur support
Signée et cachet en bas à droite, et en haut à gauche
55,2 x 37,8 cm

Les œuvres de Nguyen Phan Chanh (1892-1984) furent, pour plusieurs raisons, reproduites du vivant de l’artiste. D’une part, afin de répondre à la notoriété grandissante du peintre, il fut convenu avec les musées vietnamiens que celui-ci réalise, de sa main ou avec l’aide de son atelier sous sa supervision, certaines reproductions de ses œuvres de jeunesse. Des commandes de ce type furent ainsi passées dans les années 1980 par plusieurs institutions désireuses d’obtenir des versions d’œuvres alors majoritairement conservées dans des collections privées, afin de les présenter au public. Cette démarche répondait également à un souci de conservation et de transmission. Réalisées sur soie, support particulièrement fragile et périssable, ces compositions furent reproduites afin d’en assurer la pérennité.

L’œuvre originale est reproduite dans l’ouvrage Nguyen Phan Chanh par Thanh Lua, planche n°5, sous le titre Hái rau muõng (« Cueillette de liserons d’eau ») (1934, 35 x 60 cm), p. 29. Une oeuvre du même sujet fut présentée par Auction Art Remy Le Fur le 11 juin 2014 à Drouot, sous le n° 130.


Xưởng của NGUYỄN PHAN CHÁNH (1892–1984)
"Hái rau muống" (Thu hái rau muống)

Mực và màu trên lụa
Dán trên giá đỡ
Ký tên và đóng dấu ở góc dưới bên phải và góc trên bên trái
55,2 x 37,8 cm

Các tác phẩm của Nguyễn Phan Chánh (1892–1984) vì nhiều lý do đã được sao chép ngay khi họa sĩ còn sống. Một mặt, để đáp ứng danh tiếng ngày càng tăng của ông, đã có thỏa thuận với các bảo tàng Việt Nam rằng ông sẽ thực hiện, bằng chính tay mình hoặc với sự hỗ trợ của xưởng dưới sự giám sát của ông, một số bản sao của các tác phẩm thời kỳ đầu. Những đơn đặt hàng loại này cũng đã được thực hiện trong những năm 1980 bởi nhiều tổ chức mong muốn sở hữu các phiên bản của những tác phẩm khi đó chủ yếu nằm trong các bộ sưu tập tư nhân, nhằm trưng bày trước công chúng. Cách tiếp cận này cũng nhằm mục đích bảo tồn và truyền bá di sản. Được thực hiện trên lụa – một chất liệu đặc biệt mỏng manh và dễ hư hỏng – các tác phẩm này đã được sao chép để đảm bảo tính lâu bền.

Tác phẩm gốc được tái hiện trong cuốn Nguyễn Phan Chánh của Thanh Lữ, bảng minh họa số 5, dưới tiêu đề Hái rau muống (“Thu hái rau muống”) (1934, 35 x 60 cm), trang 29. Một tác phẩm cùng chủ đề đã được trưng bày tại Auction Art Rémy Le Fur ngày 11 tháng 6 năm 2014 tại Drouot, số 130.

Định giá : 6,000 EUR - 8,000 EUR
Xem
Lot: 79
Ⓟ ANDRÉ MAIRE (1898-1984) "Le Grand Bouddha", 1955

Ⓟ ANDRÉ MAIRE (1898-1984)

"Le Grand Bouddha", 1955

Fusain sur papier
Signé et daté en bas à gauche
65 x 50 cm

Provenance : Collection particulière française.

ANDRÉ MAIRE (1898–1984)
"Đại Phật", 1955

Than chì trên giấy
Ký tên và ghi niên đại ở góc dưới bên trái.
65 x 50 cm

Nguồn gốc : Bộ sưu tập tư nhân Pháp.

Định giá : 1,000 EUR - 1,200 EUR
Xem
Lot: 80
Ⓟ ANDRÉ MAIRE (1898-1984) "Le repos des pêcheurs", 1957

Ⓟ ANDRÉ MAIRE (1898-1984)

"Le repos des pêcheurs", 1957

Fusain et sanguine sur papier
Signé et daté en bas à droite
50 x 65 cm

Provenance : Collection particulière française.

ANDRÉ MAIRE (1898–1984)
"Nghỉ ngơi của những người đánh cá", 1957

Than chì và phấn đỏ trên giấy
Ký tên và ghi niên đại ở góc dưới bên phải.
50 x 65 cm

Nguồn gốc : Bộ sưu tập tư nhân Pháp.

Định giá : 1,000 EUR - 1,200 EUR
Xem
Lot: 81
Ⓟ ANDRÉ MAIRE (1898-1984) "Buffles d'eau et sampans"

Ⓟ ANDRÉ MAIRE (1898-1984)

"Buffles d'eau et sampans"

Fusain et sanguine sur papier
Contresigné de la main du frère de l'artiste au dos
65 x 50 cm

Provenance : Collection particulière française.

ANDRÉ MAIRE (1898–1984)
"Trâu nước và thuyền tam bản"

Than chì và phấn đỏ trên giấy
Có chữ ký xác nhận của em trai họa sĩ ở mặt sau.
65 x 50 cm

Nguồn gốc : Bộ sưu tập tư nhân Pháp.

Định giá : 1,000 EUR - 1,200 EUR
Xem
Lot: 82
Ⓟ ANDRÉ MAIRE (1898-1984) "Au bord du fleuve", 1957

Ⓟ ANDRÉ MAIRE (1898-1984)

"Au bord du fleuve", 1957

Fusain et sanguine sur papier
Signé et daté en bas à droite
65 x 50 cm

Provenance : Collection particulière française.


ANDRÉ MAIRE (1898–1984)
"Bên bờ sông", 1957

Than chì và phấn đỏ trên giấy
Ký tên và ghi niên đại ở góc dưới bên phải.
65 x 50 cm

Nguồn gốc : Bộ sưu tập tư nhân Pháp.

Định giá : 1,000 EUR - 1,200 EUR
Xem
Lot: 83
Ⓟ ANDRÉ MAIRE (1898-1985) "Bouvier sous le grand arbre"

Ⓟ ANDRÉ MAIRE (1898-1985)

"Bouvier sous le grand arbre"

Gouache sur papier
Signée en bas à droite
Encadrée sous verre
64 x 49 cm

Provenance : Collection particulière française.

ANDRÉ MAIRE (1898–1985)
"Mục đồng dưới cây lớn"

Tranh màu bột trên giấy
Ký tên ở góc dưới bên phải
Đóng khung dưới kính
64 x 49 cm

Nguồn gốc : Bộ sưu tập tư nhân Pháp.

Định giá : 2,000 EUR - 3,000 EUR
Xem