Phiên Đấu giá Đặc Biệt - LÊ PHỔ - Tình Mẫu Tử

Tue 18 Jun19H00

DROUOT SALLE 4 PARIS - HÔTEL DROUOT SALLE 4

1 result
Lot: 1
Lê Phổ - Tình Mẫu Tử

Lê Phổ sinh năm 1907 tại Hà Đông. Thân phụ của ông là Lê Hoan-Phó Vương Bắc Kỳ.

Lễ giáo phong kiến thời đó cho phép nam giới có nhiều hơn một người vợ. Vì vậy, giống

như những người nam có điều kiện kinh tế hoặc chức quan, cha của Lê Phổ cũng không

phải là ngoại lệ. Mẹ của Lê Phổ là người vợ trẻ nhất của cha. Lê Phổ là một trong ba

người con trai mà bà đã hạ sinh. Lê Phổ trở thành em bé mồ côi mẹ ở tuổi lên ba và cha

ông cũng qua đời khi ông lên tám. Vì vậy, tuổi thơ của Lê Phổ không được nhiều ấm áp

trong vòng tay cha mẹ.

Chính vì sự thiếu thốn tình thương cha mẹ nên với Lê Phổ “những năm tháng vô cùng

tươi đẹp” của ông là khi theo học tại Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương.

Lê Phổ rất kính yêu thầy giáo của mình - ngài Victor Tardieu cũng như quý mến người

thầy thứ hai - Joseph Inguimberty.

Năm 1931, Lê Phổ được thầy Victor Tardieu chọn làm trợ lý tại Triển lãm các nước thuộc

địa diễn ra tại Paris. Đây là lần đầu tiên chàng trai trẻ Lê Phổ ra nước ngoài. Năm 1932,

ông kiến tập tại Trường Cao đẳng Mỹ thuật Quốc gia, Paris. Năm 1933, Lê Phổ quay trở

lại Việt Nam. Ông tham gia dạy vẽ tập sự tại Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương,

dạy vẽ ở Trường Trung học Bảo hộ và được học sinh yêu mến.

Năm 1937, Lê Phổ trở thành Giám đốc Nghệ thuật phụ trách mảng Đông Dương của

Triển lãm Quốc tế được tổ chức tại đảo Thiên Nga - triển lãm mà người thầy yêu kính,

Giáo sư Victor Tardieu dành nhiều tâm huyết. Bởi ở đây trưng bày những tác phẩm nghệ

thuật “có chất lượng cao” của những thế hệ sinh viên đầu tiên học Trường Cao đẳng Mỹ

thuật Đông Dương. Trong lá thư ngày 2 tháng 6 năm 1937 viết từ Hà Nội, Victor Tardieu

hào hứng miêu tả tỉ mỉ về mô hình thiết kế trưng bày. 10 ngày sau khi viết lá thư trên,

Victor Tardieu đột ngột qua đời tại Hà Nội. Lúc này Lê Phổ vẫn đang ở Pháp. Có phải

chăng, những người gần gũi và yêu kính của ông là cha, mẹ và người thầy tuyệt vời đều

giã từ hậu thế… đã khiến cho Lê Phổ quyết định ở lại Pháp định cư, coi nơi đây là quê

hương thứ hai của mình.


Hội họa Lê Phổ

Về căn bản, hội họa Lê Phổ thuộc trường phái lãng mạn, giao hòa giữa văn hóa Việt

Nam, ảnh hưởng tiếp thu tinh hoa văn hóa phương Đông và phương Tây, được chia làm

ba giai đoạn. Thời kỳ đầu là khoảng thời gian Lê Phổ ở Hà Nội, và vài năm sau khi ông ở

Pháp. Chất liệu sơn mài, lụa, sơn dầu được ông thể nghiệm đầy đủ, phong cách hội họa

căn bản, cổ điển, hiện thực, hàn lâm…


Thời kỳ thứ hai gọi là thời kỳ Romanet. Phong cách hội họa thời kỳ này rất sâu đậm,

được vun đắp bởi tình bạn đặc biệt giữa Lê Phổ và quý ngài André Romanet - ông chủ

của Galerie Romanet. Việc này duy trì trong 23 năm, từ 1941 đến 1964.

Tranh lụa của Lê Phổ thời kỳ này đạt nhiều thành tựu. Lê Phổ tạo hình người nữ Việt

Nam với trang phục truyền thống; đậm chất lãng mạn, phong thái nền nã, duyên dáng…

các chi tiết trang trí đậm tính Việt, lấy cảm hứng sâu sắc từ hình ảnh, phong tục, tập quán

quê hương.

Thời kỳ thứ ba (thời kỳ cuối) của Lê Phổ bắt đầu khi ông ký hợp đồng độc quyền với

Wally Findlay Galleries của Hoa Kỳ vào năm 1964. Từ thời điểm này, ông gần như chỉ

sáng tác trên chất liệu sơn dầu.

Tạo hình người nữ Việt và những em bé vẫn luôn hiện diện nhưng phong cách, bút pháp,

màu sắc trong tranh mang âm hưởng mạnh mẽ của trường phái Ấn tượng – Hậu Ấn tượng

châu Âu; tạo nên sức hút lớn cho tranh Lê Phổ.


Thời điểm sáng tác

Dựa theo các chi tiết tạo hình trên mặt tranh, dựa theo một số tác phẩm có chủ đề, nhân

vật, phong cách sáng tác, chữ ký, triện tương đồng, có thể tác phẩm “Mẫu tử” được Lê

Phổ sáng tác trong khoảng 1935-1945. Tương đương với thời kỳ thứ hai của Lê Phổ,

trước và sau khi ông chính thức định cư ở Pháp từ 1937.

Đây là thời kỳ sáng tác đỉnh cao trên chất liệu lụa, cũng là đỉnh cao về giá trị nghệ thuật

trong suốt sự nghiệp sáng tác của Lê Phổ. Thời kỳ này là sự giao thoa của nhiều tầng văn

hóa giữa Đông và Tây trong nghệ thuật của ông. Các tác phẩm được sáng tác từ trong ý

niệm của một người Việt luôn hướng cái nhìn nhân sinh quan về quê hương. Để lý giải về

sự giao thoa mạnh mẽ này, chúng ta lật ngược một vài dấu mốc.

Năm 1931, lần đầu tiên đặt chân đến Châu Âu, được tận mắt chiêm ngưỡng

các tác phẩm đỉnh cao của Nghệ thuật hàn lâm cổ điển tại các bảo tàng ở

Pháp, Ý, Hà Lan, Bỉ… Lê Phổ đã thật sự choáng ngợp về thành tựu của các

họa sĩ bậc thầy cổ điển. Ông say mê những tạo hình chuẩn mực, phong cách cổ

điển lãng mạn, sự tinh tế trong kỹ thuật. Trong đầu dần hình thành nên bao ý

tưởng về nghệ thuật.

Năm 1934, Lê Phổ có dịp sống trong Huế một thời gian ngắn để hoàn thiện

một số đơn đặt hàng từ Cung đình Huế như chân dung Vua Bảo Đại và Hoàng

hậu Nam Phương. Cũng giống như Mai Trung Thứ, ông đã bị mê hoặc bởi sự

dịu dàng người nữ Huế cùng kiến trúc, cảnh quan nơi đây. Cùng năm, ông

cũng đã tận dụng chuyến đi Bắc Kinh để học hỏi nền hội họa Trung Hoa với

truyền thống hàng ngàn năm; cảm thụ nét tinh túy của tranh lụa qua những bức

tranh kinh điển trong bảo tàng.

Những trải nghiệm ấy cùng những năm tháng được tiếp thu bài bản nền giáo

dục nghệ thuật của Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương (từ 1925-1930),

…đã hình thành một phong cách sáng tạo, một bút pháp riêng biệt mang tên


“Hội họa của Lê Phổ”. Với dòng máu Việt Nam chảy trong huyết quản, tình

yêu tha thiết con người, cảnh sắc quê hương,.. tất cả những điều ấy đã hòa

quyện trong các tác phẩm của ông. Đặc biệt, những tác phẩm trên chất liệu lụa

thời kỳ từ 1935-1945, chủ đề thiếu nữ, mẫu tử, gia đình đã trở thành biểu

tượng đắt giá bậc nhất về nghệ thuật cũng như thương mại của Lê Phổ.


Biểu tượng của tình mẫu tử

Nằm trong chủ đề mẹ và con, bức tranh lụa “Mẫu tử” được Nhà đấu giá Millon trưng bày

và đấu giá ngày 18 tháng 6 năm 2024 là tác phẩm lụa xuất sắc bậc nhất đề tài mẫu tử của

Lê Phổ. Việc này dựa trên những đánh giá khách quan khi so sánh tương quan với những

tác phẩm cùng chủ đề và thời gian sáng tác của ông.

Toàn bộ chi tiết hiện diện trong tác phẩm đều gợi nhớ hình ảnh thân thương của gia đình

Việt, thời kỳ trước 1945. Từ trang phục cho người mẹ như áo dài (thiết kế kiểu dáng Lê

Phổ), khăn mấn màu sáng đội đầu (người nữ Huế thường dùng), đến các chi tiết trang trí

như chiếc bình sứ cổ cao, dáng đùi dế, màu bạch định đang cắm những bông hoa hồng

trà; cái bàn văn kỷ (thấp) thường dùng để uống trà, viết lách. Loại bàn này vốn có nguồn

gốc Trung Hoa với dáng (chân) thẳng; khi du nhập về Việt Nam đã được tạo dáng bốn

chân khuỳnh ra. Các nghệ sĩ Đông Dương đã dùng sơn ta, sơn son thếp vàng, trang trí

thêm họa tiết hoa lá, tạo nên một loại thiết kế mới rất được ưa chuộng trong các gia đình

thành thị. Dưới sàn là tấm thảm hoa nhiều màu được làm nhòe mờ đi để tập trung tôn vẻ

đẹp của hai nhân vật chính.

Tạo hình hai nhân vật vô cùng hợp lý, hài hòa. Tỉ lệ hình thể giữa người mẹ và đứa con

nhỏ cân đối, trong dáng vẻ thanh tú, nhẹ nhàng.

Bé trai được tạo hình bụ bẫm, hồng hào, mái tóc đen nhánh, đôi má phúng phính đang

vòng tay ôm lấy cổ mẹ, đôi mắt ngước nhìn. Người mẹ trẻ ngồi, đôi tay nhẹ nhàng mở

rộng, vỗ về, ôm trọn lấy đứa con trong sự yêu thương khôn tả.

Hình ảnh em bé trai khỏe mạnh, ngoài việc là biểu tượng về sức khỏe cho tương lai với

những trọng trách lớn trong gia đình, còn hàm chứa bao la tình mẹ đã dành cho con

nguồn mạch dinh dưỡng từ thể chất đến tâm hồn. Tình yêu thương chính là nguồn dưỡng

chất tốt nhất cho tâm hồn, giúp cho đứa trẻ hình thành một nhân cách tốt đẹp.

Nét tinh tế đầy chủ ý của tác giả được hiện lên rõ ràng khi mô tả hình ảnh người mẹ trẻ

dịu dàng dùng vạt áo che một phần thân thể của đứa con. Đây là điểm nổi bật, điểm khác

biệt giữa văn hóa phương Đông và phương Tây. Chỉ từ một hành động đơn giản “lấy vạt

áo che cho con”, tưởng chừng như “vô thức” nhưng trên thực tế, được hình thành từ hệ tư

tưởng truyền thống Á Đông “bao dung và che chở” mà người mẹ đã được truyền dạy qua

nhiều thế hệ.

Những chi tiết không kém phần tinh tế khác được họa sĩ khéo léo thể hiện như hình ảnh

chiếc khăn choàng. Chủ ý này của tác giả đã khiến cho bức tranh hoàn thiện thêm vẻ đẹp

mềm mại, thấm đẫm chất nữ Việt. Chiếc khăn choàng mỏng manh, dịu dàng khoác trên

vai người mẹ, buồng hờ quấn quýt quanh mẹ con vừa giải quyết được vấn đề tạo hình, bố


cục; vừa giải quyết được trọn vẹn biểu hiện giao thức tình yêu thương, sự chăm sóc hết

mực của người mẹ với đứa con.

Điểm đặc biệt của tác phẩm “Mẫu tử”, chính là vẻ đẹp nội tâm tác phẩm… và cũng là

điều chúng ta không nhìn thấy bằng mắt thường. Nghệ sĩ dùng sắc màu trung tính, ấm

mềm, rất vừa độ. Nhưng dường như, sự ấm áp, dịu mềm ấy không phải là cảm giác từ

màu sắc; mà sự ấm áp diệu kỳ bao phủ toàn bộ không gian ấy, được tỏa ra từ chính tình

yêu thương của người mẹ dành cho con…

Hội họa phải diễn tả những điều không nhìn thấy được mà phải là cái tâm tưởng bên

trong. Đây là những thứ không thể nhìn bằng mắt thường mà cái tâm tưởng ấy phải được

“nhìn thấu” bằng cảm xúc. Lê Phổ đã sử dụng hoàn hảo khả năng nghệ thuật ở mức cao

nhất nhằm diễn đạt tâm ý của chính mình.

Xét tổng thể tác phẩm, từ tạo hình đến hòa sắc và các chi tiết, chúng tôi nhận định: Đây là

tác phẩm tranh lụa đề tài mẫu tử xuất sắc bậc nhất trong sự nghiệp sáng tác của Lê Phổ.

Bức tranh này xứng đáng trở thành tiêu điểm quan trọng trong một bộ sưu tập nghệ thuật

chất lượng.

Có cảm giác thời gian lắng đọng lại khi ngắm nhìn tác phẩm đẹp tuyệt này. Khoảng trời

bao la với thiên nhiên tươi đẹp, nếp nhà ấm áp lan tỏa những dịu dàng âu yếm bởi trong

tâm trí của mỗi chúng ta đều có một thiên thần mang tên: Mẹ. Thông điệp của tác phẩm

đong đầy những xúc cảm – Tình yêu thương của mẹ là nguồn cội nuôi dưỡng mạch sống

cho tâm hồn.


Nguồn gốc :

Bộ sưu tập tư nhân của Pháp.

Ước tính: € 200.000 - € 300.000



Bán vào ngày 18 tháng 6 tại Salons du Trocadéro – MILLON – 5 Avenue d’Eylau 75016 Paris lúc 19h (Theo giờ Việt Nam).


Thông tin liên hệ:

Email: [email protected]  

Hotline : 0706430688



Định giá : 200,000 EUR - 300,000 EUR
Xem